Hòa
thượng THÍCH PHƯỚC NINH
1915
– 1994
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
PHƯỚC NINH
(1915
– 1994)
Hòa
thượng Thích Phước Ninh, pháp danh Thị Niệm, pháp tự Hành
Đạo, pháp hiệu Phước Ninh, nối pháp dòng Lâm Tế – Chúc
Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Hồ Văn Kỷ, sinh Ất
Mẹo 1915, tại thôn Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Sông Cầu,
tỉnh Phú Yên. Trong một gia đình trung nông, nề nếp Nho phong,
có lòng kính tin Phật pháp, thân phụ là ông Hồ Văn Tửu,
thân mẫu là bà Lê Thị Bật.
Năm
Bính Dần (1926), khi đã đúng 12 tuổi, Ngài được song thân
chấp thuận và đích thân đưa đến cầu xuất gia tu học
với Tổ Thiền Phương tại Tổ đình Phước Sơn, xã Xuân
Sơn, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Ngài đã nhanh chóng
hội nhập nếp sống thiền gia, từ công việc chấp tác cho
đến những giờ giấc tu học, Ngài luôn giữ thời khóa rất
nghiêm mật, nên được Bổn sư cảm khái và đồng môn quý
mến.
Năm
Tân Mùi (1931) khi đã được 17 tuổi, Bổn sư cho Ngài vào
tòng học tại Phật học đường Gia giáo Tây Thiên (tỉnh
Ninh Thuận) do Hòa thượng Trí Thắng và Hòa thượng Phúc Hộ
trực tiếp giảng dạy.
Năm
Ất Hợi (1935) Ngài trở về Phú Yên tiếp tục tham học giáo
pháp tại chùa Bảo Sơn, huyện Tuy An. Nơi này do Hòa thượng
Phúc Hộ chuyên phần chủ giảng về giới luật.
Năm
Canh Thìn (1940), Ngài được Tổ Thiền Phương cho thọ Sa di
giới tại giới đàn chùa Thái Nguyên, huyện Thủ Đức, tỉnh
Gia Định (nay thuộc phường Bình Trưng, quận 2, thành phố
Hồ Chí Minh).
Năm
Đinh Hợi (1947), lúc này Ngài đã 28 tuổi, được Bổn sư
cho đăng đàn thọ Tỳ kheo-Bồ tát giới tại giới đàn chùa
Bảo Sơn, huyện Tuy An do Hòa thượng Vạn Ân làm Đường đầu
truyền giới.
Từ
năm Ất Dậu (1945) đến năm Giáp Ngọ (1954), trong thời kỳ
kháng chiến chống thực dân Pháp, Ngài tích cực tham gia Hội
Phật giáo Cứu quốc tỉnh Phú Yên và được cử giữ chức
vụ Chủ tịch Phật giáo Cứu quốc huyện Đồng Xuân.
Từ
năm Bính Thân (1956) cho đến năm Quý Mão (1963), Ngài được
chư tôn đức đề cử giữ chức Hội trưởng Phật giáo huyện
Tuy An.
Năm
Đinh Dậu (1957), Ngài được đề cử trụ trì Tổ đình Bảo
Sơn, thôn Phong Thăng, xã An Định, huyện Tuy An. Trước đó,
Ngài cũng được Giáo hội Tăng Già tỉnh Phú Yên tiến cử
trụ trì chùa Linh Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Sông Cầu; kế
đó là chùa Trường Gia, thôn Chí Thạnh, xã An Cư, huyện Tuy
An, tỉnh Phú Yên.
Năm
Tân Sửu (1961), Ngài vận động thiện tín khắp nơi ủng hộ
trùng tu Tổ đình Bảo Sơn thành ngôi bảo tự uy nghiêm tráng
lệ cho đến ngày nay.
Năm
Mậu Thân (1968), do ảnh hưởng của chiến tranh, các đệ tử
thỉnh cầu Ngài tạm rời khỏi Tổ đình để theo bước tản
cư lánh nạn, Ngài được chư huynh đệ đồng môn thỉnh vào
trú xứ nơi đất Sài Gòn. Nơi đây nhờ nhân duyên kết tụ,
Ngài khai sơn chùa Từ Phong tại xã An Khánh, quận 9, Sài Gòn
(nay là quận 2, thành phố Hồ Chí Minh). Không lâu sau đó chiến
sự lắng yên, Ngài trở về lại Tổ đình Bảo Sơn, phó chúc
cho đệ tử là Ni sư Tịnh Giám thay mặt Ngài trụ trì chùa
Từ Phong.
Năm
Nhâm Tý (1972), Ngài đã góp phần thực hiện nhiều nhiệm
vụ hoằng hóa của Giáo hội Phật giáo tại tỉnh nhà, song
song với công việc hướng dẫn Tăng chúng và Phật tử tu
học.
Năm
Nhâm Tuất (1982), sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được
thành lập, Ngài được cử trụ trì chùa Bảo Tịnh thuộc
phường 3, thị xã Tuy Hòa, đây còn là văn phòng của Tỉnh
hội Phật giáo Phú Yên. Ngài còn được Tỉnh Giáo hội cử
giữ chức Chánh đại diện Phật giáo huyện Tuy An, trụ trì
tại chùa Cảnh Phước cho đến ngày viên tịch tại đây.
Cho
đến khi cuối đời, Ngài luôn sống vị tha, dung dị, lúc
nào cũng ân cần với người lầm lỗi, luôn giúp đỡ kẻ
sa cơ, nghèo khó; bản thân Ngài vẫn hành theo ý niệm Thiểu
dục Tri túc trong sinh hoạt hằng ngày.
Ngày
20 tháng 4 năm Giáp Tuất, nhằm ngày 30 tháng 5 năm 1994, Ngài
an nhiên thị tịch tại chùa Cảnh Phước, trụ thế 79 tuổi
đời và có 47 Hạ lạp. Ngài là vị Tổ trụ trì đời thứ
6 của Tổ đình Bảo Sơn.