HÒA
THƯỢNG
THÍCH
PHÁP LAN
(1913
– 1994)
Hòa
thượng Thích Pháp Lan, pháp húy Trừng Tâm, pháp tự Thiện
Hảo, thế danh là Lê Hồng Phước, sinh năm Quý Sửu (1913)
tại làng Tây An, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ
Ngài là cụ ông Lê Chuẩn, mất năm 1928, thân mẫu là cụ
bà Đinh Thị Sen, mất năm 1955. Ngài là con trưởng trong gia
đình có 4 anh em : 3 nam, 1 nữ.
Ngài
xuất thân trong một gia đình đạo đức Nho phong, kính tín
Tam bảo. Ngay thuở ấu thời mới lên 8 tuổi, Ngài đã được
song thân cho theo học chữ Nho với cụ đồ Huyền Lý nổi
tiếng trong làng. Nhờ tư chất thông minh lại hiếu học nên
Ngài đã sớm trở nên người giỏi văn thơ. Nhưng, như đã
có căn duyên túc kiếp; tuy tuổi đời còn nhỏ, mà Ngài đã
sớm nhận thức thế gian là huyễn mộng, phù du...
Đến
năm Bính Dần 1926, ý chí xuất gia thúc đẩy Ngài ly hương
dấn bước vào Nam, lần đến nơi chùa Thiên Thai ở chân núi
Dinh Cố – Bà Rịa. Duyên lành đã đến, Ngài được Hòa
thượng Huệ Đăng thu nhận làm đệ tử và thế độ xuất
gia ban cho pháp danh là Trừng Tâm. Năm ấy, Ngài vừa tròn 14
tuổi.
Sau
3 năm đầu thử thách mùi thiền ý đạo ở chùa Long Hòa,
là Tổ đình của chùa Thiên Thai ở phía trước núi, Ngài
đã được Hòa thượng Tổ sư rất lấy làm tâm đắc, và
cho phép thọ giới Sa di tại Tổ đình Long Hòa, ban pháp tự
là Thiện Hảo, nối đời thứ 42, thuộc dòng Thiên Thai Thiền
Giáo Tông.
Năm
Quý Dậu 1933, khi đến 21 tuổi, nhận thấy Ngài có pháp khí
Đại thừa, một triển vọng tốt cho Phật pháp sau này, nên
Tổ sư đã cho đăng đàn thọ Tỳ kheo và Bồ Tát giới tại
giới đàn chùa Thanh Long, Bình Trước, Biên Hòa, và ban cho
Ngài pháp hiệu là Pháp Lan, qua bài kệ phú pháp :
“Trừng
thần định tánh quán Như Lai
Tâm
địa quang minh đại biện tài
Pháp
pháp dung hòa giai Phật pháp
Lan
hoa phúc úc thượng Liên Đài”( )
Năm
Canh Thìn 1940, Tổ Huệ Đăng mở trường Phật Học gia giáo
để đào tạo Tăng tài phục vụ cho Đạo pháp. Ngài cũng
được tham dự cùng với quý pháp hữu lúc ấy như : Hòa thượng
chùa Thiên Quang, Hòa thượng chùa Thiên Ân, Hòa thượng chùa
Long Thiền (Gò Công), Hòa thượng Minh Nguyệt, Hòa thượng
Thiện Hào... và sau đó Ngài tiếp tục theo học 2 năm tại
chùa Long An (Chợ Lớn).
Với
căn bản Nho học vững chắc và đức tính siêng năng cầu
tiến, nên Ngài nhanh chóng thâm nhập giáo lý Đại thừa. Vì
vậy, đến năm 1945, Ngài đã trở thành một vị Pháp sư nổi
tiếng ở các trường Hương, trường Gia Giáo... khắp miền
lục tỉnh Nam kỳ.
Năm
Đinh Hợi 1947, để có một trụ xứ yên tâm hành hóa độ
sanh, Ngài được Phật tử cung thỉnh về trụ trì chùa Khánh
Hưng ở Chí Hòa – Hòa Hưng – Sài Gòn. Năm đó Ngài 35 tuổi.
Từ
năm 1951 – 1956, Ngài thành lập trường Gia giáo Sơ-Trung học
Lục Hòa Tăng tại bản tự để giảng dạy chư Tăng các nơi
về tu học. Theo học khóa này, có các Tăng sinh ưu tú sau này
như : Thượng tọa Huệ Lạc, Chơn Nghĩa, Quảng Tường... đảm
đương Phật sự trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Trong
thời gian này, Ngài một mặt tiếp tục công việc tiếp dẫn
hậu lai, một mặt tham gia hoạt động bí mật của Cách mạng
chống thực dân Pháp, Ngài được giao phụ trách An ninh Khu
4 – Mỹ Tho và giữ chức vụ Chủ tịch Lực lượng Phật
giáo Cách Mạng Sài Gòn– Gia Định.
Năm
Quý Tỵ 1953, Ngài được đề cử làm Tổng Thư ký Tăng Đoàn
Liên Tông Việt Nam.
Năm
Quý Mão 1963, Ngài đã cùng chư tôn Giáo phẩm, tham gia trong
Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo, tích cực đấu tranh
chống chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm đàn
áp Phật giáo.
Năm
Giáp Thìn 1964, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra
đời, Ngài được cử làm Vụ trưởng Đoàn Phật tử vụ,
thuộc Tổng vụ Cư sĩ và Chánh đại diện Phật giáo tỉnh
Gia Định, rồi thành viên Hội đồng Giáo phẩm Viện Hóa
Đạo – Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, kiêm Chủ
tịch Tổng Đoàn Thanh niên Tăng Ni Việt Nam.
Năm
Kỷ Dậu 1969, được tin Hồ Chủ tịch qua đời ở miền Bắc
Việt Nam, Ngài đã làm 2 câu đối và tổ chức lễ truy điệu
tại ngay chùa Khánh Hưng:
“Nam
Bắc toàn dân quy thượng Chính
Á
Âu thế giới kính tu mi” ( )
Năm
Canh Tuất 1970, Ngài đảm nhận chức vụ Cố vấn Ủy ban cải
thiện chế độ lao tù miền Nam Việt Nam.
Năm
Quý Sửu 1973, Ngài được đề cử Chủ tịch Ủy ban Phật
giáo vận động phóng thích tù nhân. Và tham gia nhiều phong
trào đấu tranh khác của các giới trí thức, sinh viên, học
sinh... ở Sài Gòn – Gia Định.
Năm
Ất Mão 1975, miền Nam được giải phóng, đất nước thống
nhất, đại gia đình Phật giáo Bắc-Trung-Nam, từ từ quy về
một nhà. Ngài tích cực tham gia phong trào vận động thống
nhất Phật giáo Việt Nam, và kiêm các chức vụ như : Trưởng
ban Liên lạc Phật giáo yêu nước quận 3; Ủy viên Đoàn Chủ
tịch Ban liên lạc Phật giáo Yêu nước thành phố Hồ Chí
Minh.
Năm
Tân Dậu 1981, Đại hội đại biểu Thống nhất Phật giáo
Việt Nam cả nước được tổ chức tại chùa Quán sứ –
Hà Nội. Ngài được suy cử làm Ủy viên Hội đồng Trị
sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong 2 nhiệm kỳ
(1981-1992).
Năm
Nhâm Tuất 1982, Ban Trị sự Thành hội Phật giáo thành phố
Hồ Chí Minh được thành lập. Ngài nhận trách nhiệm Phó
ban Trị sự Thành hội Phật giáo trong 3 nhiệm kỳ (1982 –
1998) và năm 1989, Ngài kiêm Trưởng ban Kiểm Tăng cho đến
ngày viên tịch.
Đối
với đất nước, Ngài được mời tham gia Ủy viên Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh 2 nhiệm kỳ (1986
– 1993) để góp phần cùng các hội đoàn, các giới xây dựng
đất nước phồn vinh, độc lập.
Năm
1992, tại Đại hội kỳ 3, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ngài
được suy tôn làm thành viên Hội đồng Chứng minh Trung ương
Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho đến ngày mãn duyên.
Vào
những năm cuối đời, tuy tuổi già sức yếu nhưng Ngài vẫn
đóng góp cho đạo cho đời bằng tất cả tâm nguyện vô ngã
vị tha : giảng dạy Tăng Ni Phật tử, chứng minh các khóa
an cư kiết Hạ và trùng tu ngôi Tam bảo “Khánh Hưng” thêm
trang nghiêm, tú lệ.
Lộ
trình phụng sự đạo pháp – dân tộc, trang nghiêm Giáo hội,
tiếp dẫn hậu côn của Ngài đã viên mãn. Sau cơn suy tim đột
ngột, Ngài xả báo an tường thu thần thị tịch lúc 2 giờ
30 phút ngày 20 tháng Giêng năm Giáp Tuất, nhằm ngày 01 tháng
3 năm 1994, tại trụ xứ chùa Khánh Hưng. Ngài trụ thế 81
năm, Hạ lạp trải qua 59 mùa An cư kiết Hạ.
Hơn
50 năm hóa đạo, Hòa thượng Thích Pháp Lan đã cống hiến
trọn vẹn tâm huyết, tài đức cho đạo pháp – dân tộc
và lịch sử đấu tranh, phát triển nền hòa bình, độc lập,
thống nhất chung cả đời và đạo . Một hình bóng cao cả
của bậc Sứ giả Như Lai, tận tụy giảng dạy Tăng Ni –
Phật tử; quên mình vì sự nghiệp chung của đất nước,
đã khắc đậm trong tâm trí của hàng hậu bối, của bao tầng
lớp Phật tử Việt Nam.