HÒA
THƯỢNG
THÍCH
HUYỀN ĐẠT
(1903
– 1994)
Hòa
thượng Thích Huyền Đạt, pháp danh Như Lợi, pháp tự Giải
Lý, thế danh là Trương Thế Kiên, sinh năm Quý Mão (1903) tại
xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
Ngài
sinh trưởng trong một gia đình Nho giáo, thân phụ là cụ ông
Trương Thế Long, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Kim Phụng.
Song thân Ngài sinh được 2 người con, Ngài là con trưởng.
Ngay
từ thuở nhỏ, Ngài đã được thân phụ cho theo học Nho đạo,
Khổng kinh để mong sau này nối nghiệp gia phong. Thế nhưng,
với túc duyên Phật đạo sâu dày, Ngài không thích cảnh đời
ô trược, trói buộc trong luân hồi, nên Ngài phát tâm xuất
gia quy y đầu Phật. Buổi ban đầu khai tâm học đạo, Ngài
may mắn gặp được minh sư là Hòa thượng Chơn Trung – Diệu
Quang, đệ lục Tổ Thiên Ấn thâu nhận làm đệ tử. Năm
ấy, Ngài mới 14 tuổi (1917).
Sau
bốn năm thử thách mùi thiền ý đạo, Ngài được thọ giới
Sa di tại giới đàn Tổ đình Thiên Ấn do chính Bổn sư của
Ngài làm Đường đầu Hòa thượng. Tiếp theo đó, Ngài được
theo học tại Phật học viện gia giáo chùa Bảo Lâm thuộc
xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi do Hòa thượng
Vĩnh Thừa làm trụ trì giảng dạy.
Cho
đến năm 22 tuổi (1925), Ngài được đăng đàn thọ Cụ túc
giới tại giới đàn chùa Bảo Lâm, do Hòa thượng Vạn Thọ
làm Đường đầu truyền giới. Từ đây, Ngài xin phép Bổn
sư cất bước vân du khắp nhiều nơi để tham cầu học Phật.
Năm
1928, Ngài vào Nam tu học tại chùa Viên Hoa tỉnh Bến Tre. Năm
1930, Ngài lại đến tu học tại chùa Tân Thành, tỉnh Biên
Hòa, rồi chùa Tây An, Núi Sam – Châu Đốc. Lòng hiếu học
cầu tiến thúc đẩy Ngài sang tận Nam Vang nước Cao Miên để
tu học và nghiên cứu thêm giáo lý Phật đà. Ngài ở lại
đây được 2 năm, sau đó trở về nước đến Nha Trang nhận
lãnh trách nhiệm Giáo hội Phật giáo Nha Trang đề bạt : làm
trị sự chùa Hội Phước và trụ trì chùa Linh Phong Cổ tự
(chùa Núi) vào năm 1933.
Năm
1945, Cách mạng Tháng 8 thành công, Ngài trở về quê hương
và được cử làm tri sự Tổ đình Thiên Ấn, kiêm Giám tự
chùa Viên Giác – Thanh Thanh Sơn (núi Thình Thình thuộc huyện
Bình Sơn). Từ đó, Ngài tham gia phong trào kháng Pháp của Hội
Phật giáo Cứu quốc Liên khu 5.
Năm
1955, Ngài là thành viên Giáo hội Tăng Già Phật giáo tỉnh
Quảng Ngãi. Năm 1963, Ngài là Cố vấn cho Ủy ban Liên phái
Bảo vệ Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1964 –
1965, Ngài làm Đặc ủy Tăng sự Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống nhất tỉnh Quảng Ngãi.
Năm
1966, Ngài được cung thỉnh làm Đường đầu Hòa thượng
tại giới đàn Trúc Lâm (Tăng học đường thuộc thị trấn
Sơn Tịnh – Quảng Ngãi).
Năm
1968, Tăng Ni tín đồ Phật giáo tỉnh Quảng Ngãi suy cử Ngài
làm Viện chủ Tổ đình Sắc tứ Thiên Ấn cho đến khi viên
tịch, và giữ trọng trách Thượng thủ Hội đồng Trưởng
lão dòng Lâm Tế Tổ đình Thiên Ấn.
Năm
1972, Ngài lại được cung thỉnh làm Đường đầu Hòa thượng
tại Đại giới đàn chùa Bảo Linh (thị xã Quảng Ngãi).
Dù
tuổi cao sức yếu nhưng vẫn không sao lãng việc đạo –
đời, Ngài vào miền Nam vận động lòng tín tâm của các
thiện nam tín nữ phát tâm cúng dường tài vật để trùng
hưng các chùa như : chùa Tích Sơn (Tịnh Long, Sơn Tịnh), chùa
Trúc Lâm (Tăng học đường thị trấn Sơn Tịnh), chùa Viên
Giác Thanh Thanh Sơn (núi Thình Thình, huyện Bình Sơn) và nhất
là trụ xứ Tổ đình Thiên Ấn, mà ngày nay chùa đã trở
thành một di tích lịch sử văn hóa của dân tộc, và là đệ
nhất danh thắng trên đất Quảng Ngãi miền Trung Việt Nam.
Ngoài
ra, Ngài còn đảm nhiệm nhiều Phật sự quan trọng của Phật
giáo tỉnh Quảng Ngãi sau khi thống nhất đất nước, thống
nhất Phật giáo; đóng góp nhiều công sức trong phong trào
bảo vệ và xây dựng đất nước, được Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam tặng thưởng huy chương “Vì sự nghiệp đại đoàn
kết toàn dân”.
Tuổi
tác càng cao, sức khỏe càng yếu, Ngài an nhiên thị tịch
vào hồi 5 giờ 15 phút ngày 12 tháng 1 năm 1994, tức ngày mồng
1 tháng Chạp năm Quý Dậu, tại Tổ đình Thiên Ấn, Ngài trụ
thế 91 tuổi, Hạ lạp 70 năm.