HÒA
THƯỢNG
PHÁP
MINH
(1918
– 1993)
Hòa
thượng Pháp Minh, pháp danh Vijjàdhamma Mahàthera, thế danh là
Nguyễn Văn Long, sanh ngày 15 tháng 3 năm Mậu Ngọ – 1918, tại
làng Phước Hải, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu,
thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Tài, thân mẫu là cụ bà
Phạm Thị Minh. Song thân Ngài đều là người hiền lành, đức
độ và thuần kính Tam bảo.
Ngài
xuất thân trong một gia đình trí thức yêu nước, có đạo
đức truyền thống lâu đời. Ngay từ thuở nhỏ, Ngài đã
chú trọng việc học, nhất là các môn ngoại ngữ, nên Ngài
đã nhanh chóng thi đậu Diplôme (Diplôme d’ Etudes primaires supérieures
– Cao đẳng Tiểu học).
Cuộc
sống trôi nhanh, cái sở học thế gian không thỏa mãn được
một người có đầu óc hướng thượng, Ngài đã tìm đến
giáo lý Phật đà, một ý thức hệ thực tiễn, hoàn thiện
– một sự giải thoát tâm linh vi diệu, đó là nhân duyên
ban đầu đến với Phật pháp của Ngài, hạt giống thiện
được Ngài gieo trồng, chắt chiu từng ngày từng tháng, chỉ
chờ có thuận duyên là đâm chồi, nảy nhánh... Ngày 7 tháng
2 năm 1965 (nhằm ngày 6 tháng Giêng, Ất Tỵ), Ngài được Hòa
thượng Bửu Chơn, thọ ký làm Sa di tại chùa Phổ Minh –
Gò Vấp – Gia Định. Lúc này Ngài đã 47 tuổi đời.
Ý
niệm “Vô thường là việc lớn” đã thúc giục Ngài vững
chí, tiến bước nhanh trên con đường giải thoát. Chỉ ba
năm sau, Ngài được đăng đàn thọ giới Tỳ kheo nơi Hòa
thượng Giới Nghiêm làm Thầy tế độ, tại chùa Pháp Bảo,
Mỹ Tho.
Từ
xuất gia cho đến ngày thọ Đại giới, Ngài đã lần lượt
tham phương, học đạo ở khắp nơi. Từ những vùng lân cận
như chùa Phổ Minh, chùa Phước Hải – Vũng Tàu; Tịnh xá
Ngọc Phương, Thủ Dầu Một đến những nơi xa xôi như Tịnh
xá An Lạc – Bắc Mỹ Thuận, Tổ đình Bửu Quang – Gò Dưa;
chỗ nào Ngài cũng lưu lại hình bóng tôn nghiêm của một
sứ giả Như Lai tự độ, độ tha.
Cuối
năm 1969, sau khi du hóa mọi nơi, Ngài tạm dừng chân ở Tổ
đình Bửu Quang – Gò Dưa để tiếp tục sự nghiệp tu hành.
Tháng
12 năm 1974, Ban quản trị thắng tích Thích Ca Phật Đài ở
Vũng Tàu thỉnh Ngài về tham gia công việc quản lý trụ xứ
và hoằng dương chánh pháp. Ngài ở lại đây tu học được
một năm và lại tiếp tục vân du khắp nẻo.
Năm
1975 – 1976, Ngài đi lần đến vùng Tô Châu ở Hà Tiên –
Rạch Giá để hành đạo theo hạnh Đầu Đà Sau đó trở lại
Tổ đình Bửu Quang – Gò Dưa lập cốc Bình Thủy để an
cư thiền định và dịch kinh, viết sách. Vốn có sở học
thế gian, lại thông thạo nhiều ngoại ngữ như : Anh, Pháp,
Thái Lan, Khmer, Pàli... cộng thêm có trí tuệ thông minh hơn
người, nên Ngài miệt mài soạn dịch rất nhiều kinh sách
như các bộ :
- Chú
giải Kinh Pháp Cú
-
Cậu Kim Hòa
-
Đại đức Hộ Mù
-
Tỳ kheo Korambì...
và
trước tác rất nhiều tác phẩm mà hiện nay còn là bản thảo
như :
1-
Sổ Tức Quán thực tập
2-
Cổng vào Niết bàn
3-
Lâm Tuyền pháp
4-
Chiến sĩ thượng thặng
5-
Ba cách làm phước
6-
Siêu pháp tiết chế tình dục
7-
Việc tập tâm
8-
Bốn Oai nghi
9-
Hạnh nguyện Bồ Tát
10-
Thiền Luận
11-
Tùy bút Pháp hành
12-
Kệ tụng Pàli
Ngoài
ra, Ngài còn am hiểu nhiều về một số lĩnh vực khoa học,
nghệ thuật cho nên tín đồ Phật tử càng ngày càng quy tụ
đông, đa phần họ đều là những người có trí thức. Đối
với bản thân, Ngài kiên trì tu hạnh Đầu đà khất thực,
hạnh không nằm và xiển dương pháp “Thiền quán” cho các
đồ chúng noi theo.
Thế
nhưng, “Thế gian vô thường, sanh tử hữu hạn”. Vào lúc
9 giờ sáng ngày mồng 5 tháng Giêng năm Quý Dậu (1993), Ngài
ngồi kiết già, an nhiên thị tịch, trụ thế 75 tuổi đời,
hưởng 28 tuổi đạo.
Hòa
thượng Pháp Minh, tuy đến với Phật pháp không sớm như các
vị tôn túc khác, nhưng thành quả đạt đạo, và sự nghiệp
truyền bá chánh pháp thật đáng trân trọng – Đức hạnh
Đầu đà tinh nghiêm cho đến ngày viên tịch và những di sản
trí tuệ kinh sách, đã góp phần khơi nguồn làm cho đạo pháp
sáng soi khắp nẽo, khắc đậm dấu ấn trong lòng Tăng tín
đồ Phật tử Hệ phái Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam.