HÒA
THƯỢNG
THÍCH
CHÂN THƯỜNG
(1912
– 1993)
Hòa
thượng Thích Chân Thường, pháp húy Bản Như, pháp hiệu Chân
Thường, thế danh là Trần Đức Ký, sanh năm Nhâm Tý 1912 (niên
hiệu Duy Tân thứ 5) tại làng Trà Trung, tổng Trà Lũ, phủ
Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ngài sinh trưởng trong một gia
đình am tường Nho giáo, cũng là một gia đình nhiều đời
theo đạo Phật. Thân phụ Ngài là cụ Trần Đức Huấn tự
Chất Lượng, thân mẫu là cụ Trần Thị Chắt, hiệu Diệu
Trinh. Ngài là người con thứ hai trong gia đình có 3 trai, 3
gái.
Năm
Ất Hợi 1935, khi 23 tuổi Ngài vâng lệnh song thân lập gia
đình để giữ tròn đạo hiếu người con trai, nối dõi tông
đường và sống đời cư sĩ thờ Phật, phụng dưỡng cha
mẹ. Tuy sống trong nhà thế tục với người vợ hiền và
3 con : hai gái một trai, nhưng Ngài luôn hướng tâm về con
đường giác ngộ – giải thoát, mong một ngày nào có thể,
sẽ xuất trần nhập đạo.
Vốn
bản tính nhân hậu lại giàu lòng thương người nên Ngài
rất ham thích làm những việc từ thiện xã hội. Ngài thường
xuyên giúp đỡ người nghèo khó, phụ trách công việc làng
về các việc tế lễ, hộ niệm và thường phát tâm đóng
góp tài vật để tu bổ chùa chiền Phật sự; đặc biệt
là công trình xây dựng cảnh chùa Hương Tích ở Hương Sơn
– Hà Tây, Ngài và gia đình đã có rất nhiều công đức...
Năm
Canh Thìn 1950, với ý chí xuất trần đã được hun đúc từ
lâu, gần nửa cuộc đời sống ở trần gian làm tròn bổn
phận tình nhà lẫn hiếu hạnh. Năm 38 tuổi Ngài quyết định
cắt ái từ thân, xuất gia đầu Phật với Tổ Trà Trung –
Linh Ứng. Cùng vào năm này, Ngài được Tổ cho đăng đàn
thọ Cụ túc giới tại bản tự, sau đó sang tham học luật
Tỳ Ni tại chốn Tổ Tuệ Tạng, chùa Vọng Cung, Nam Định.
Tuy
xuất gia tuổi trugn niên, nhưng Ngài đã vượt qua mọi ngoại
cảnh trần duyên để nỗ lực tinh tấn tu hành, ngõ hầu hoằng
dương Phật pháp. Việc đầu tiên là Ngài cảm hóa gia đình
cùng hướng nẽo thiện, hai người con gái đầu đã đi theo
bước chân giải thoát của Ngài, thế phát xuất gia với Ni
trưởng Tịnh Nguyệt. Nay là Ni sư Diệu Tâm, trụ trì chùa
Hải Ninh – Hải Phòng và Ni sư Diệu Minh trụ trì chùa Quán
Âm – Paris (Pháp Quốc), người con trai út là Trần Đức Vinh
cũng là Phật tử thuần thành tôn kính Tam bảo.
Năm
Giáp Ngọ 1954, thuận theo hoàn cảnh khách quan của đất nước.
Ngài rời gót vân du vào miền Nam, trụ nơi đất Sài Gòn,
chuyên tu pháp môn Tịnh độ và bắt đầu sự nghiệp hoằng
pháp lợi sanh ở đây.
Năm
Mậu Tuất 1958, Ngài đã cùng một số Phật tử nhiệt tâm
kiến tạo ngôi tịnh xá An Lạc, tiền thân của chùa An Lạc,
đường Phạm Ngũ Lão, quận Nhất, Sài Gòn. Ngài khuyến hóa
tín đồ ấn tống kinh sách Phật học nhiều loại để biếu
tặng cho các nơi xa xôi thiếu thốn chánh pháp.
Trong
hành trình vân du hiển dương Phật pháp, ấn tống kinh sách
và khuyến tu Tịnh độ, Ngài đã vận động kiến tạo thêm
2 ngôi chùa, một ở Biên Hòa và một ở Thủ Dầu Một để
giúp Phật tử những nơi này có chỗ lễ bái tụng niệm.
Sau này, Ngài giao lại cho Phật tử địa phương tiếp tục
trông coi giữ gìn ngôi Tam bảo.
Để
trau giồi thêm kiến thức Phật học, cũng như tìm hiểu về
Phật giáo ở các nước. Năm 1961, Ngài sang nước Cao Miên
nghiên cứu giáo lý Theravàdà (Nguyên Thủy Phật giáo) một
thời gian, rồi tiếp tục sang Lào hành đạo và học hỏi
ở xứ này.
Năm
Giáp Thìn 1964, vì nhu cầu Phật sự và đáp lời thỉnh nguyện
của Cư sĩ Trần Đình Quế – Hội trưởng Giáo hội Phật
giáo Linh Sơn ở châu Âu, Ngài lên đường sang Pháp để hành
đạo, hóa duyên và Ngài cũng chính thức khai sáng chùa Linh
Sơn, trụ trì nơi này một thời gian rồi giao lại cho Hòa
thượng Thích Huyền Vi kế nhiệm.
Năm
Mậu Thân 1968, từ nước Pháp Ngài sang Ấn Độ chiêm bái
Phật tích, rồi trở lại Pháp để tiếp tục con đường
hoằng pháp của một sứ giả Như Lai, Ngài đã tìm mua một
khu đất tại vùng Champigny, ngoại ô Paris và khai sáng chùa
Quán Âm cùng thành lập Hội Phật giáo Quán Âm Paris, đó cũng
là trụ xứ hoằng đạo của Ngài trên đất Pháp cho đến
lúc cuối đời.
Ngoài
sự nghiệp khai sáng 2 ngôi chùa Việt Nam đầu tiên trên đất
Pháp ra, Ngài còn đặt trọng tâm vào việc hướng dẫn các
hàng Phật tử tu học, cùng ra sức phiên dịch, ấn tống các
loại kinh sách để phổ biến cho Phật tử trong và ngoài nước.
Các tác phẩm Ngài đã dịch và ấn hành gồm :
Chư
kinh Nhật tụng,
Kinh
A Di Đà,
Kinh
Đại phương tiện Phật báo ân,
Kinh
Đại bát Niết Bàn,
Kinh
Pháp Hoa Huyền Tán,
Thế
giới An Lập Đồ,
Kinh
Địa Tạng,
Kinh
Phổ Môn,
Kinh
Vô Lượng thọ,
Phổ
Đà sơn dị truyện,
Và
cuối cùng là Bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Ngài
còn tu hạnh phước thiện, cúng dường, bố thí cho các nơi
thiếu thốn cần giúp đỡ dù gần hay ở xa, khi có thỉnh
cầu thì đều được Ngài phát tâm tùy hỉ công đức. Những
năm cuối đời, tuy tuổi già sức yếu nhưng Ngài vẫn nhiệt
tâm chăm lo Phật sự, cũng như giúp đỡ tinh thần, vật chất
cho các hội đoàn từ thiện, cứu trợ trẻ em tị nạn, mồ
côi... và trùng tu kiến tạo lại ngôi chùa Quan Âm ngày một
khang trang tú lệ như ngày nay tại ngoại ô thủ đô Paris –
Pháp quốc.
Đây
phải chăng là nơi viên mãn quả nguyện cuối cùng của Ngài,
để lưu dấu biết bao công đức và đạo hạnh. Ngài viên
tịch lúc 6 giờ ngày 18 tháng 12 năm 1993 (tức ngày 6 tháng
11 năm Quý Dậu), trụ thế 82 tuổi đời và có 42 tuổi đạo.
Ngài
là một trong những vị Tăng sĩ Việt Nam đầu tiên có công
đem Phật giáo truyền bá tại thủ đô Paris – nước Pháp.
Suốt đời Ngài tận tụy với trách nhiệm làm xương minh
Phật đạo nơi đất khách quê người, với hoài bão nên cao
ánh đuốc Từ bi đến cho chúng sinh mọi nơi quy ngưỡng.