HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TRỪNG SAN
(1922
– 1991)
Hòa
thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, pháp hiệu Hải
Tuệ, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế chánh tông, thế
danh là Nguyễn San (sau đổi là Trần Văn Lâu). Ngài sinh năm
Nhâm Tuất 1922, tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện
Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa, thân phụ là cụ ông Nguyễn Lợi,
thân mẫu là cụ bà Trương Thị Tý, đều là Phật tử thuần
thành, thâm tín Tam bảo.
Ngài
sinh trong một gia đình có truyền thống nhiều đời tin Phật.
Vốn có túc duyên Phật pháp sâu dày, nên năm 8 tuổi, Ngài
đã xin phép song thân được xuất gia tu học. Buổi đầu khai
tâm, Ngài được Hòa thượng Phổ Hiện, chùa Khánh Long, Diên
Khánh thu nhận làm đệ tử. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài
y chỉ với vị kế thế trụ trì là Hòa thượng Chánh Ký.
Đặc biệt, Ngài được cả hai vị Bổn sư và Y chỉ sư trực
tiếp truyền dạy Du già nghi pháp và đến năm 20 tuổi, Ngài
đã làu thông.
Năm
Quý Mùi 1943, Ngài được Hòa thượng y chỉ sư cho đến thọ
giáo tu học với Hòa thượng Giác Phong, trụ trì chùa Hải
Đức, Nha Trang.
Mùa
đông, năm 1945 (Ngài được 23 tuổi), đất nước lâm vào
cảnh điêu linh vì giặc ngoại xâm. Ngài đã phải ứng cơ
độ thế, tham gia vào lực lượng Việt Minh chống giặc ngoại
xâm bảo vệ tổ quốc. Sau một thời gian hoạt động Cách
mạng, Ngài đã bị địch bắt giam ở nhà ngục Kon Tum suốt
7 năm trường.
Mãi
đến mùa hè năm 1953 (Ngài được 31 tuổi), từ ngục tù Kon
Tum trở về, Ngài lại tiếp tục cuộc sống tu hành ở Phật
học đường Nha Trang (vừa được thành lập tại chùa Long
Sơn, trụ sở Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa).
Năm
Đinh Dậu 1957, hai Phật học đường Báo Quốc và Nha Trang
được sát nhập thành Phật học viện Trung phần, đặt cơ
sở tại chùa Hải Đức, Nha Trang, Ngài là một trong những
thành viên đầu tiên của Phật học viện này. Cũng từ đó,
cuộc đời tu hành của Ngài đã gắn chặt vào công tác đào
tạo Tăng tài của Phật học viện Trung phần, với bao nỗi
thăng trầm, biến chuyển cho mãi đến ngày mãn duyên cõi tạm.
Cuối
năm 1957 (35 tuổi), Ngài được thọ Cụ túc giới tại Đại
giới đàn đầu tiên của Phật học viện Trung phần do Hòa
thượng Giác Nhiên (chùa Thiền Tôn – Huế) làm Đàn đầu
truyền giới. Trong giới đàn này Ngài là Thủ Sa di.
Năm
Kỷ Hợi 1959, do nhu cầu Phật sự quá cấp thiết, Ngài được
Phật học viện đề cử vào trụ trì chùa Thiên Bình, xã
Hòa Tân, Cam Ranh, Khánh Hòa. Sau một thời gian, Ngài được
Phật học viện Trung phần gọi về tham gia công tác quản
lý tại đây.
Năm
Ất Tỵ 1965, Ngài cầu pháp với Hòa thượng Thích Trí Thủ,
Giám viện Phật học viện Hải Đức, Nha Trang, được ban
cho pháp hiệu là Hải Tuệ và được truyền bài kệ phú pháp
như sau :
“Hải
tánh nan tư nghì
Thừa
đương nhân tự tri
Không
hoa do nhãn ế
Sanh,
Phật tất giai phi”
Cũng
vào năm này, Giáo hội thống nhất cơ cấu tổ chức Phật
học viện toàn quốc, Ngài được đề cử giữ chức vụ
Giám sự Phật học viện Hải Đức, Nha Trang. Đồng thời,
Ngài được mời giữ chức Giám viện Phật học viện Trung
đẳng Linh Sơn, Nha Trang.
Năm
Kỷ Dậu 1969, Ngài chứng minh sáng lập “Y vương niệm Phật
đường” tại bệnh viện tỉnh Khánh Hòa.
Năm
Canh Tuất 1970, Ngài kiêm nhiệm trụ trì chùa Diên Thọ, trụ
sở Giáo hội huyện Diên Khánh, và chùa Linh Phong (chùa Núi)
Vĩnh Thái – Nha Trang.
Năm
Nhâm Tuất 1982, sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được
thành lập, Ngài được đề cử giữ chức Ủy viên Tăng sự
trong Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Phú Khánh cho đến
đại hội Phật giáo tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ I năm 1991 (sau
khi tách tỉnh).
Cuộc
đời của Ngài, từ lúc trưởng thành cho đến khi già yếu,
đã hòa nhập vào những bước thăng trầm của đạo pháp
và dân tộc. Từ kháng chiến gian khổ, ngục tù khắc nghiệt,
cho đến cuộc sống tu hành nghiêm tịnh chốn thiền môn công
tác Phật sự liên tục dồn dập, Ngài vẫn không từ nan phục
vụ, không tránh né khó khăn; ở đâu cần thì Ngài đến,
Phật sự nào được giao phó Ngài đều chu toàn.
Do
sự cống hiến quên mình ấy, nên sức khỏe của Ngài đã
dần dần giảm sút theo tháng năm, tuổi tác. Cho đến năm
1988 Ngài yếu hẳn và trọng bệnh phát sinh. Trong thời gian
tịnh dưỡng ở chùa Long Sơn, măïc dù xác thân tứ đại
hoành hành não bệnh, nhưng Ngài vẫn không xao lãng công phu
tu niệm.
Một
hôm, như biết trước cơ duyên sắp mãn, Ngài nhờ môn đồ
chở đi thăm viếng hầu hết các cảnh chùa trong huyện Diên
Khánh. Đây là lần thăm viếng quê hương cuối cùng của Ngài.
Đêm
21 tháng 11 năm 1991 (tức ngày Rằm tháng 10 năm Tân Mùi), trước
số đông pháp hữu, pháp quyến đến thăm Ngài, đang nằm
trên giường bệnh, Ngài tỉnh táo hỏi : “Hôm nay là ngày
mấy ?” quý pháp hữu trả lời bằng ngày Dương lịch, Ngài
nói: “Không, ngày Âm lịch kia”. Sau khi nghe trả lời, Ngài
im lặng mỉm cười !
Đến
lúc 10 giờ sáng ngày 22 tháng 11 năm 1991 (16 tháng 10 năm Tân
Mùi) hóa duyên đã mãn, Ngài đã an nhiên xả bỏ báo thân,
thu thần nhập diệt trụ thế 70 năm, hưởng 35 tuổi đạo.
Ngài
đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sanh, cống
hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp
và dân tộc Việt Nam.