HÒA
THƯỢNG
THÍCH
VIÊN QUANG
(1921
– 1991)
Hòa
thượng Thích Viên Quang, pháp danh Nguyên Minh, pháp tự Công
Huệ, húy Minh Tự – Thiện Hòa, thuộc dòng Thiền Lâm Tế
chi phái Liễu Quán đời thứ 44. Ngài thế danh là Trương Trọng
Cửu, sinh ngày mùng 8 tháng 12 năm Tân Dậu 1921 (năm Khải Định
thứ 5) tại thôn Phú Hội, xã An Ninh, huyện Tuy An, tỉnh Phú
Yên.
Ngài
sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Phật giáo
nhiều đời, thân phụ là cụ ông Trương Khoa Cử, thân mẫu
là cụ bà Phan Thị Phiên.
Năm
Ất Hợi 1935 (năm Bảo Đại thứ 10) với túc duyên sẵn có,
khi vừa tròn 15 tuổi, Ngài đến cầu xuất gia với Hòa thượng
Vạn Đạo, chùa Thiên Sơn, Phú Yên nhân ngày vía Phật Di Đà
17 tháng 11, được Hòa thượng ban pháp danh Nguyên Minh, tự
Công Huệ.
Năm
Bính Tý (1936), Ngài được Hòa thượng Bổn sư gởi đi học
luật nghi với Hòa thượng Hưng Từ, chùa Pháp Hội, huyện
Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
Năm
Kỷ Mẹo (1939) theo đúng luật, sau thời gian 3 năm chấp tác,
hành điệu và sách tấn trau giồi luật nghi nghiêm mật, Ngài
được thọ tam đàn Cụ túc giới đàn Tổ đình Linh Sơn Trường
Thọ do Hòa thượng Vĩnh Sung làm Đàn đầu truyền giới.
Năm
Tân Tỵ (1941), Ngài đến cầu học pháp môn Du Già khoa nghi
với Hòa thượng Xuân Quang, chùa Liên Trì trọn một năm.
Năm
Quý Mùi (1943), nhận thấy chưa thông đạt trọn vẹn tâm pháp
cầu học, Ngài thiết tha xin Hòa thượng Bổn sư cho trở lại
chùa Liên Trì tiếp tục trau giồi, sách tấn và để bước
đầu thực hiện công việc hoằng hóa nương tựa vào oai đức
của Hòa thượng Xuân Quang.
Năm
Ất Dậu (1945), vua Bảo Đại thoái vị, tình cảnh đất nước
lại đang lâm vào nạn đói khủng khiếp. Ngài xin được phép
trở về Phú Yên, và đảm nhận trụ trì chùa Long Phú. Trong
thời gian này, Ngài chuyên hành mật hạnh và phụng dưỡng
mẫu thân đang già yếu, đồng thời dìu dắt, dạy dỗ em
trai mình ( ).
Tuy
vậy, Ngài cũng không quên những nơi đã un đúc cho mình trở
nên hàng Tỳ kheo đạo hạnh, giữa lúc thời buổi chiến tranh
loạn lạc, Ngài tiếp tục tham học nên bất chấp khó khăn
trở ngại, Ngài thường lui tới các Tổ đình Liên Trì, Cổ
Vân, Thiên Long, Kim Cang, Thiên Tứ (Ninh Hòa). Đó còn là những
nơi Ngài đều đặn tham dự các khóa An cư kiết Hạ thường
niên.
Nhờ
vào các chuyến vân du lui tới những nơi như thế, ngoài những
thầy Tổ và các bạn lữ trong tông môn đại gia đình Tăng
bảo, Ngài còn được tiếp xúc với rất nhiều những tư
tưởng lớn ngoài xã hội, giữa lúc đất nước còn đau khổ
(sau khi Nhật đầu hàng đồng minh ở thế chiến thứ II, thực
dân Pháp trở lại). Do đó, hưởng ứng lời kêu gọi của
đất nước, Ngài cũng như một số Tăng lữ tạm thời xếp
lại công việc hoằng hóa để tham gia phong trào Phật giáo
Cứu quốc do Hòa thượng Hưng Từ và các bậc danh Tăng lãnh
đạo, nhằm hỗ trợ cho Mặt trận Việt Minh kháng Nhật, kháng
Pháp.
Năm
Giáp Ngọ (1954), một nửa đất nước được an lành nhưng
còn một nửa tiếp tục lâm vào cảnh dầu sôi lửa bỏng.
Nơi quê hương trú xứ của Ngài nằm lại một nửa sau. Tuy
vậy, tình thế không đến nỗi gắt gao như trước nên các
Ngài trở về phục hưng lại ý chí, trùng tuyên Phật pháp
và tinh tấn chuyên tu.
Năm
Quý Mão (1963), sau hằng chục năm trời từ khi ách thực dân
đô hộ đã lùi xa, Phật giáo lại một lần nữa đương đầu
trước nạn kỳ thị và đàn áp Phật giáo của chế độ
Ngô Đình Diệm, một tôn giáo lớn của nhân loại và đối
với dân tộc đã là nếp sống gắn bó tự bao đời. Trước
tình cảnh thúc bách đó, Ngài cùng toàn thể Phật giáo đồ
tỉnh Phú Yên đứng lên đấu tranh, chung sức giành lại vị
trí cao cả của Phật giáo Việt Nam đi vào lòng dân tộc hơn
20 thế kỷ.
Năm
Ất Tỵ (1965), Ngài trở lại Bình Thuận để tiếp tục hoằng
dương chánh pháp, trụ trì chùa Thiền Lâm - lúc này là chùa
Tỉnh hội Phật giáo Bình Thuận.
Những
năm 1970 – 1973, Ngài giữ chức Phó Giám viện kiêm Giám học
Phật học viện Nguyên Hương, Bình Thuận.
Từ
năm 1972 đến năm 1976, Ngài được tiếp tục suy cử giữ
chức trụ trì chùa Tỉnh hội Phật giáo Bình Thuận.
Năm
Quý Sửu (1973), Ngài khai sơn tịnh thất Long Thiền thuộc xã
Tân Xuân, huyện Hàm Tân, để chọn nơi nghiêm trì tịnh nghiệp.
Năm
Nhâm Tuất (1982), Ngài được Ban Trị sự Tỉnh hội cử giữ
chức trụ trì Tòng lâm Vạn Thiện, đồng thời đảm nhiệm
Ủy viên Nghi lễ, Ủy viên Giáo dục Tăng Ni và là Phó Ban
trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Thuận.
Năm
Đinh Mão (1987) Ngài trùng hưng lại chùa Long Phú đã xuống
cấp theo thời gian vì hoàn cảnh chiến tranh.
Năm
Tân Mùi (1991), trước dự kiến thành lập trường Cơ bản
Phật học tỉnh Bình Thuận để theo kịp đà phát triển chung
của Phật giáo đương đại Ngài được đề bạt làm Hiệu
trưởng. Thế nhưng, Ngài cảm thấy sức khỏe dần kém do
tuổi đã cao, nên ngày 14 tháng 3, Ngài cho triệu tập tất
cả Tăng chúng lại, dặn dò phó chúc những Phật sự cần
thiết và mong mỏi hàng đệ tử hết lòng phụng sự chánh
pháp, giúp ích dân tộc.
Sang
ngày Rằm tháng 3 năm Tân Mùi (nhằm ngày 19 tháng 4 năm 1991),
Ngài an nhiên thâu thần thị tịch tại tịnh thất Long Thiền,
thọ thế 71 năm, Hạ lạp 51 mùa an cư.
Cảm
niệm ân đức sâu dày của Ngài, đồ chúng đã xây Bảo tháp
bảy tầng để tôn thờ nhục thể Ngài tại Tòng lâm Vạn
Thiện, Phan Thiết.