HÒA
THƯỢNG
THÍCH
HOÀNG MINH
(1916
– 1991)
Hòa
thượng Thích Hoàng Minh, pháp danh Tâm Huệ, thuộc đời thứ
43 dòng Tế Thượng Chánh Tông (Thiên Thai), thế danh Nguyễn
Châu Thình, bí danh là Minh Châu, sinh ngày 21 tháng 10 năm Bính
Thìn (1916) tại xã Tân Đông, huyện Gò Công Đông, tỉnh Mỹ
Tho ( Tiền Giang).
Thân
phụ Ngài là ông Nguyễn Văn Đề, thân mẫu là bà Châu Thị
Danh. Gia đình Ngài sống thuần phác theo nông nghiệp, mẫu
mực lễ giáo nho phong, mấy đời kính tin Tam bảo. Nội tổ
là đại thí chủ chùa Tân Long, Gò Lức. Ngài là con thứ sáu
trong một gia đình đông con, mồ côi mẹ năm lên 4 tuổi, được
kế mẫu dưỡng dục.
Năm
10 tuổi (1925), Ngài được thân phụ cho vào chùa Tân Long (Gò
Lức) tục gọi chùa Mục Đồng thế phát quy y với Hòa thượng
Chí Thiện và được ban pháp danh là Tâm Minh.
Năm
13 tuổi (1928), Ngài được Bổn sư cho đến học đạo với
Hòa thượng Pháp Hội chùa Long Thoàng, xã Bình Nghị, huyện
Gò Công Đông, được pháp hiệu là Thiện Kim, Ngài ở đây
tu học được 5 năm.
Cũng
tại đây, năm 18 tuổi (1933), Ngài học đạo với Hòa thượng
Pháp Đạt. Được Hòa thượng thế độ, đặt pháp danh là
Tâm Huệ, hiệu Hoàng Minh. Và cho đi thọ giới Sa di tại trường
Kỳ chùa Thanh Long, Biên Hòa.
Năm
1935 (Ất Hợi), Ngài 20 tuổi, được Hòa thượng Pháp Đạt
cho đi thọ giới Cụ túc tại trường Kỳ chùa Thiên Ân (Thủ
Dầu Một).
Năm
1938 (Mậu Dần), Ngài tham dự trường Hương chùa Phước Hựu,
xã Vĩnh Viễn, huyện Gò Công Tây. Trong trường Hương này,
Ngài được tấn phong Đệ nhất Giáo thọ, kiêm Giám khảo
Luật học.
Năm
1939 (Kỷ Mão), Ngài theo học tại đạo tràng của Hòa thượng
Huệ Đăng (Thiên Thai – Bà Rịa). Sau hai năm tu học ở đây,
với tuệ căn mẫn đạt, Ngài thấu suốt lý kinh, tận tường
nghĩa luật, nên đã được Tổ Huệ Đăng truyền tâm pháp
ngày 15 tháng 8 năm 1940 cùng với Hòa thượng Pháp Lan, chùa
Khánh Hưng (Sài Gòn).
Năm
1941 (Tân Tỵ) được tin nội tổ và thân phụ đau nặng, Ngài
xin phép về quê để lo phụng dưỡng, báo đáp công ơn sinh
thành cho đến khi nội và cha già đều lần lượt qua đời.
Năm
1945 (Ất Dậu), sau khi đã mãn cư tang nội tổ và thân phụ,
Ngài trở về chùa Long Thoàng và được bà đại thí chủ
Huỳnh Thị Diệu thỉnh trụ trì Tổ đình này để kế tục
sự nghiệp tiếp Tăng, độ chúng của thầy Tổ.
Năm
1947 (Đinh Hợi), Ngài với bí danh Minh Châu gia nhập đoàn thể
Phật giáo Cứu quốc tỉnh Gò Công của Mặt trận Việt Minh
và được bầu làm Phó Chủ tịch kiêm Trưởng ban hành chánh
tỉnh Gò Công, Chủ tịch là Hòa thượng Pháp Hoa.
Năm
1951, Ngài được cử đi chiến khu Lý Nhơn để tập huấn.
Ngài đã viết và ký một ngàn tờ truyền đơn, nội dung kêu
gọi đoàn thể tôn giáo chống chế độ thực dân Pháp và
bù nhìn Bảo Đại.
Năm
1952 (Nhâm Thìn), Ngài bị giặc bắt, đày qua Lào, rồi đưa
về giam ở ngục Hỏa Lò – Hà Nội. Đến năm 1954 (Giáp Ngọ),
sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Ngài được trao
đổi tù binh ở Gia Lai (Kontum).
Năm
1955 (Ất Mùi) Ngài trở về quê nhà và được bà đại thí
chủ Lâm Tố Liêng (cùng phái Thiên Thai) xây chùa Thiêng Liêng
và thỉnh Ngài về trụ trì.
Năm
1956 (Bính Thân), Ngài triệu tập Tăng Ni tỉnh Gò Công, thành
lập Ban Trị sự Giáo hội Tăng Già lâm thời của tỉnh. Ngài
được Đại hội bầu làm Trưởng ban Hoằng Pháp. Ba khóa
sau, Ngài giữ chức Trưởng ban Tài chính Kiến thiết.
Năm
1957, Ngài dự khóa huấn luyện trụ trì Như Lai Sứ Giả ở
chùa Pháp Hội, Chợ Lớn do Giáo hội Tăng Già Nam Việt tổ
chức.
Năm
1959, Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Gò Công tổ chức khóa An cư
kiết Hạ tại chùa Thanh Trước, Ngài được mời làm Phó
chủ Hương kiêm Thủ bổn và Giáo thọ đảm trách luật học.
Năm
1962, bà Lâm Tô Diệm phụng cúng cho chùa Thiêng Liêng 24 mẫu
ruộng để làm điền tự, phục vụ việc tiếp Tăng độ
chúng. Nhờ duyên đó, Ngài thế độ được 5 đệ tử xuất
gia nối tiếp mạng mạch Phật pháp.
Năm
1964 (Giáp Thìn), Giáo hội được cải tổ, Ngài được bầu
làm Phó ban đại diện Phật giáo tỉnh Gò Công suốt 3 nhiệm
kỳ.
Năm
1970 (Canh Tuất), Ngài được Giáo hội khối Việt Nam Quốc
Tự, mời làm cố vấn liên tiếp 5 năm. Trong thời gian này,
Ngài kiến thiết được 3 ngôi chùa: Linh Châu, Linh Sơn, Thiên
Trường và xây dựng một ký túc xá từ thiện để giúp đồng
bào tỵ nạn chiến tranh và giúp học sinh ở quê ra tỉnh học
có nơi cư trú.
Năm
1971 (Tân Hợi), Ngài tổ chức khóa An cư kiết Hạ tại chùa
Thiêng Liêng và thuyết giảng Phật học phổ thông về kinh,
luật, luận.
Năm
1975, Ngài hiến 15 mẫu đất hương hỏa của chùa cho Công
ty Hải sản Gò Công Đông. Năm 1976 (Bính Thìn), Ngài là thành
viên Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước huyện Gò Công Đông.
Năm 1978, được đề cử làm thành viên Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam huyện Gò Công Đông và năm 1982, là thành viên Mặt
trận Tổ quốc tỉnh Tiền Giang.
Mùa
hạ năm 1982, chùa Huệ Quang khai trường Hương, Ngài được
mời vào Ban chức sự và thỉnh giảng các môn kinh, luật.
Cũng trong năm này, Ngài cùng Hòa thượng Huyền Quý chùa Liên
Hoa – Gò Công Đông tổ chức xây tháp Bảo Đồng, thờ linh
cốt chư Tăng Ni, Phật tử chùa Tân Long (Gò Lức) và trong
khu vực.
Năm
1986 (Bính Dần), Ngài được Đại hội đại biểu Phật giáo
toàn quốc tấn phong Hòa thượng và cung thỉnh vào Ban Chứng
minh Phật giáo tỉnh nhà.
Năm
1987, trong Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần
II, Ngài được suy tôn vào Hội đồng Chứng minh Trung ương
Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Tháng
3 năm 1991 (Tân Mùi), Ngài nhuốm bệnh. Ngày 16 tháng 4 năm 1991,
chư vị tôn túc trong Ban trị sự Phật giáo tỉnh Tiền Giang,
chư Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni các tự viện trong huyện
Gò Công Đông và môn đồ pháp quyến tổ chức hội lễ sanh
tiền. Vào lúc 20 giờ 10 phút ngày mùng 2 tháng 5 năm Tân Mùi
(tức 13 tháng 6 năm 1991) Ngài an nhiên xả bỏ báo thân, hưởng
thọ 76 tuổi, giới lạp 56 mùa Hạ.
Suốt
một đời gắn bó với đạo pháp và dân tộc, không một
Phật sự nào mà Ngài từ nan, không một nghĩa vụ nào mà
Ngài không hoàn tất. Ngài là tấm gương thiệp thế ( ) cho
Tăng lữ thời mạt pháp vây.