HÒA
THƯỢNG
THÍCH
HOẰNG THÔNG
(1902
– 1988)
Hòa
thượng Thích Hoằng Thông pháp danh Quảng Châu, pháp hiệu
Hoằng Thông, thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 45. Ngài
thế danh là Phạm Ngọc Thạch, sanh năm Nhâm Dần – 1902 tại
xã Mỹ Thạnh Đông, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, thân
phụ là ông Phạm Văn Ngàn, thân mẫu là bà Mạch Thị Báu.
Thuở
nhỏ, Ngài thường đau ốm nên thân mẫu cho xuống chùa Linh
Phước, thuộc xã Mỹ Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền
Giang ở học đạo với Hòa thượng Quảng Ân. Sau một thời
gian tìm hiểu tánh hạnh, nhận thấy Ngài thiện duyên sâu
dày, tuệ căn mẫn tiệp lại thêm ý chí mạnh mẽ nên năm
1914, Hòa thượng đồng ý thế phát xuất gia cho Ngài, đặt
pháp danh là Quảng Châu. Lúc này Ngài vừa tròn 14 tuổi.
Sau
khi xuất gia, dưới sự hướng dẫn, dạy dỗ của Hòa thượng
Bổn sư, Ngài dốc tâm tu học, rèn trau giới đức nên chẳng
bao lâu kinh, luật cơ bản Ngài đều thông suốt, thiền môn
nghi tắc lại thêm vững vàng. Năm 1919, Ngài được Bổn sư
cho thọ giới Sa di tại trường Kỳ chùa Hội Khánh.
Năm
1921, nhân chùa Từ Ân mở Đại giới đàn, Hòa thượng Bổn
sư đã cho Ngài đăng đàn thọ giới Cụ túc. Và sau đó, Ngài
được phép Bổn sư cho đi tham học khắp nơi. Hằng năm Ngài
đều đến các tòng lâm lớn ở miền Nam để an cư kiết
Hạ.
Năm
1925, Ngài đến cầu pháp với Hòa thượng Thanh Ẩn chùa Từ
Ân và được Hòa thượng cho pháp hiệu là Hoằng Thông.
Suốt
gần mười năm du phương học đạo, trải khắp các tòng lâm
danh tiếng tham học với các bậc cao Tăng thạc đức, với
tuệ căn mẫn tiệp sẵn có, chẳng bao lâu Ngài đã khế ngộ
được nguồn giáo lý uyên thâm của Phật đà và nhanh chóng
trở thành một Pháp sư nổi tiếng, biện tài vô ngại, rất
được Tăng chúng và Phật tử đương thời ngưỡng mộ.
Năm
1927, duyên hóa đạo sớm đến, ban hội tề làng Tân Hòa Thành
đến chùa Linh Phước cần cầu Hòa thượng Quảng Ân xin thỉnh
Ngài về đảm nhiệm ngôi trụ trì chùa Long Hội. Xét thấy
Ngài đạo lực đã vững vàng, học hạnh lại kiêm ưu, có
thể tuyên dương chánh pháp nên được Hòa thượng Bổn sư
bằng lòng.
Chùa
Long Hội do dân làng mới tạo dựng còn rất thô sơ, vườn
tược ít oi, lau cỏ rậm rạp, bổn đạo thưa thớt, quang
cảnh quạnh hiu. Ngài về đây đêm công phu thọ trì, ngày
bồi mương dọn cỏ, trồng cây sửa kiểng tôn trí lại ngôi
bảo tự càng lúc càng khang trang đẹp đẽ. Chùa không đạo
chúng, nhứt Tăng nhứt Tự, Phật sự đa đoan, lại thêm ban
hội tề khó khăn mọi lẽ; thế nhưng Ngài vẫn kiên trì nhẫn
nại chu tất mọi công việc. Dần dà tiếng lành đồn xa,
kẻ Tăng, người tục mến mộ đức hạnh của Ngài về quy
ngưỡng mỗi lúc một đông.
Năm
1929, xét thấy thiện duyên đã đủ, Ngài cho khởi công trùng
tu lại ngôi Bảo điện và hậu Tổ chùa thêm khang trang, rộng
rãi, kiên cố hơn.
Năm
1939, Ngài khai trường Kỳ, cung thỉnh chư tôn Hòa thượng
, Thượng tọa, chư Đại đức Tăng khắp nơi về khai đàn
truyền giới cho chúng Tăng. Ngài cung thỉnh Hòa thượng Bổn
sư làm Hòa thượng Đàn đầu. Đại chúng suy tôn Ngài lên
chức vị Hòa thượng chủ Kỳ. Lúc ấy Ngài vừa tròn 38 tuổi.
Và
cũng nhân dịp ra kinh đô Huế xin phép Triều đình mở trường
Kỳ, Ngài được gặp Từ Cung Thái Hậu và vua Bảo Đại.
Đức vua phê chuẩn đơn xin, đồng thời ban hiệu cho chùa
là Sắc Tứ Long Hội tự. Năm 1941, sắc phong được gởi về
và từ đó chùa có tên là Sắc Tứ Long Hội.
Năm
1952, Giáo hội Lục Hòa Tăng thành lập tại Sài Gòn, Ngài
được mời đi dự Đại hội và được suy tôn vào Ban chức
sự Trung ương Giáo hội.
Năm
1964, tỉnh Định Tường (nay là Tiền Giang) thành lập Tỉnh
Giáo hội, Hòa thượng Quảng Ân được suy tôn làm Tăng trưởng,
Ngài được bầu làm Tăng Giám.
Đối
với sự nghiệp thống nhất đất nước, Ngài cũng có nhiều
đóng góp. Trong thời kỳ chiến tranh năm 1972, chùa Long Hội
nằm trong vùng giải phóng. Ngài luôn tham gia đóng góp công
sức cùng nhiều tài vật cho cách mạng, ngoài ra còn vận động
đồng bào Phật tử tham gia ủng hộ.
Năm
1974, Hòa thượng Quảng Ân tịch, Ngài được bầu làm Tăng
trưởng Giáo hội Lục Hòa Tăng tỉnh Định Tường cho đến
ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Năm
1981, Ngài được mời đi dự Hội nghị thống nhất Phật
giáo tổ chức tại thủ đô Hà Nội. Trong đại hội, Ngài
được suy tôn vào Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội
Phật giáo Việt Nam nhiệm kỳ I.
Song
song với sự nghiệp đạo pháp – dân tộc, Ngài vẫn không
quên việc trùng tu, sửa sang lại ngôi Long Hội tự, mặc dù
Ngài lúc này tuổi đã già, sức khỏe yếu kém rất nhiều.
Năm
1983, Ngài lâm bệnh nặng, đôi chân yếu ớt nằm một chỗ,
không đi lại được, nhưng tinh thần còn minh mẫn. Tăng Ni,
Phật tử đến thăm Ngài luôn nhắc nhở việc tu hành, khuyên
Tăng, Ni trẻ phải nỗ lực hành trì giới luật để Phật
pháp được trường tồn.
Rằm
tháng Bảy năm Mậu Thìn – 1988, lúc 10 giờ đêm Ngài an nhiên
thị tịch, hưởng thọ 86 tuổi, giới lạp 66 năm. Tang lễ
được Ban Trị sự Tỉnh hội và Ban đại diện Phật giáo
huyện Châu Thành đứng ra tổ chức theo di chúc của Ngài,
nhục thân được môn đồ nhập tháp tại bản tự.
Ngài
là một bậc cao Tăng có nhiều công lao đóng góp vào công
cuộc chấn hưng Giáo hội tỉnh nhà, suốt đời phụng sự
Phật pháp rất được Tăng Ni, Phật tử tỉnh Tiền Giang kính
ngưỡng.