HÒA
THƯỢNG
THÍCH
HUYỀN TẾ
(1905
– 1986)
Hòa
thượng Thích Huyền Tế, pháp danh Như Long, pháp hiệu Huyền
Tế. Ngài sanh vào ngày Rằm tháng Bảy – nhân lễ Vu Lan Thắng
Hội năm Ất Tỵ (1905), tại làng Sung Tích (nay là xã Sơn Hội),
huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ Ngài là một
Phật tử tại gia thuần thành quy y với Hòa thượng Diệu
Quang đệ lục Tổ sư Thiên Ấn với pháp danh Như Tiếp, tự
là Giải Đạo. Ngài xuất thân trong một gia đình trung lưu
khá giả, là người con thứ 10 trong gia đình.
Từ
thuở ấu thời đến khi trưởng thành, Ngài được rèn luyện,
học tập triết lý Nho gia và cũng thường đến học Phật
tại Tổ đình Thiên Ấn, thỉnh giáo kinh sách với Hòa thượng
Chơn Trung – Diệu Quang để mở mang trí tuệ.
Vào
ngày 19 tháng 6 năm Quý Hợi (1-8-1923), khi vừa tròn 18 tuổi,
Ngài chí thành cầu thỉnh Tổ sư đệ lục xin xuất gia đầu
Phật, được Tổ đặt pháp danh Như Long, nhờ chí tâm tu học,
nỗ lực ngày đêm; không bao lâu sau Ngài đã trở thành một
học Tăng xuất sắc ở Tổ đình Thiên Ấn.
Năm
Đinh Mão 1927, sau 4 năm chuyên cần tu tập dưới sự dìu dắt
tận tình của Tổ sư đệ lục, Ngài được thọ giới Sa
di tại Đại giới đàn chùa Từ Hiếu được tổ chức chung
cho các tỉnh : Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi
và Bình Định và đắc pháp với pháp tự là Giải Thuyền.
Năm
Canh Ngọ 1930, thiện duyên đã đến lúc 25 tuổi, Ngài được
Bổn sư tuyển chọn cho đi thọ giới Tỳ kheo tại giới đàn
chùa Bảo Lâm, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi và đắc
pháp với pháp hiệu là Huyền Tế.
Suốt
8 năm tu học, với đức độ khiêm cung, học lực uyên thâm,
giới hạnh trang nghiêm, tánh tình hòa nhã, năm 1931, Ngài được
Tăng chúng, huynh đệ và tín hữu đề cử làm tri sự kiêm
Duy Na tại Tổ đình Thiên Ấn.
Năm
Nhâm Thân 1932, nhận thấy lòng hiếu học cầu tiến và đức
độ khiêm cung của Ngài, Tổ sư đệ lục cho phép Ngài vào
miền Nam tham học, nghiên cứu kinh luật giáo lý Đại thừa.
Cuối năm 1934, được lệnh Bổn sư Ngài trở ra Bình Định
vào chùa Thập Tháp thọ giáo cầu pháp thêm ở Hòa thượng
Phước Hưng, một vị đức độ tài ba, uy tín ở miền Trung
lúc bấy giờ.
Đầu
năm Bính Tý 1936, do nhu cầu Phật sự, Ngài được chư Sơn
và môn phái triệu về giao cho chức vụ Trị sự trưởng,
để cải tổ và trùng hưng lại chùa Quang Lộc ở Quảng Ngãi.
Năm
Mậu Dần 1938, Hòa thượng Vĩnh Thừa có việc Phật sự phải
về Huế, Ngài được Tổ sư đệ lục và chư Tăng tín đồ
đề cử làm trụ trì chùa Bảo Lâm thuộc làng Vĩnh Lại (Mỹ
Khê), huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ngài đã trùng tu
chánh điện, kiến lập trai đường, Tăng xá để phục vụ
cho sự sinh hoạt tu học và tín ngưỡng của đông đảo Tăng
Ni, Phật tử, để tiếp tục duy trì mạng mạch Phật pháp,
lợi lạc quần sanh.
Năm
Bính Tuất 1946, hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến (19-12-1946) một số Tăng sĩ trẻ đã “cởi áo cà sa,
khoác chiến bào”. Cảnh chùa trống vắng, tín hữu thất
lạc, Ngài đã cùng quý Hòa thượng Khánh Tín, Huyền Đạt,
Huyền Ấn, Huyền Tịnh, Huyền Tấn vượt các gian lao, quyết
tâm sắt son giữ gìn Tam Bảo cho đến ngày hòa bình lập lại
năm 1954.
Năm
Ất Mùi 1955, sau 10 năm hoạt động Phật sự bị ngừng trệ
do chiến tranh, Ngài đã tổ chức lại khóa Hạ đầu tiên
tại chùa Bảo Lâm cho Tăng Ni trong tỉnh và ngoài tỉnh đến
an cư tu học.
Thời
kỳ pháp nạn 1963, thời điểm mà các nhà tu hành Phật giáo
chân chính, các tín đồ Phật tử thuần thành không ai không
ưu tư, hành động. Ngài ở tận miền thôn dã, cũng đã phát
động những phong trào đấu tranh chống lại sự đàn áp kỳ
thị Phật giáo của chính phủ nhà Ngô, bất chấp mọi sự
đe dọa của chính quyền sở tại. Ngài vẫn sát cánh với
quý Hòa thượng lãnh đạo ở Tỉnh hội tranh đấu, buộc
chính quyền đương thời phải thỏa mãn những nguyện vọng
chính đáng của Phật giáo đồ Việt Nam.
Năm
Ất Tỵ 1965, Ngài và chư Tăng, Phật tử phải tạm trú tại
chùa Hội Phước trong thị xã Quảng Ngãi một thời gian, vì
chùa Bảo Lâm nằm trong vùng có chiến sự lan rộng.
Năm
Bính Ngọ 1966, Ngài vận động đạo hữu, tín đồ đóng góp
xây dựng chùa Bảo Linh tại Bàu Cả làm nơi đào tạo Tăng
tài, để các Tăng sĩ trẻ có nơi tu học, nhiều vị hiện
nay đang phục vụ cho Giáo hội các tỉnh như : Thượng tọa
Thích Hạnh Diên, Hạnh Trình, Hạnh Trân, Đại đức Trí Thắng...
Những
năm 1967-1969, Ngài được Giáo hội cung thỉnh kiêm nhiệm trụ
trì chùa Tỉnh hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Quảng
Ngãi.
Năm
Kỷ Dậu 1969, Ngài được đề cử chức vụ Cố vấn Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Quảng Ngãi và là
thành viên trong Hội đồng Trưởng lão Viện Hóa Đạo.
Đến
năm Tân Hợi 1971, đại hội Phật giáo cử Ngài làm Đặc
ủy Tăng sự suốt nhiệm kỳ, và tham dự các cuộc họp quan
trọng trong Hội đồng Trưởng lão Trung ương. Ngoài ra, mỗi
năm Ngài còn làm Thiền chủ cho các khóa Hạ ở Tăng học
đường Tích Sơn; Trúc Lâm, ở chùa Bảo Kinh và ở Tỉnh Giáo
hội Quảng Ngãi.
Những
năm cuối đời, Ngài vẫn hoạt động Phật sự, không phút
nào ngơi nghỉ. Dù tuổi già sức yếu, nhưng tâm trí vẫn
còn minh mẫn, lúc nào cũng lo cho Phật pháp.
Hàng
bao lớp Tăng Ni thành tài phụng sự cho Giáo hội, hàng vạn
tín đồ Phật tử được Ngài dạy dỗ, khuyến tu đều trở
thành những người hộ đạo đắc lực. Trong số đó, có
đạo hữu Huỳnh Dương đã phát tâm phụng cúng ngôi chùa
Giác Lâm ở Sung Tiếp, Sơn Tịnh – Quảng Ngãi cho Ngài cùng
môn phái trùng tu, quản lý và hoằng truyền Phật đạo.
Năm
Bính Dần 1986, Ngài chấm dứt báo thân, siêu thoát về cõi
vô dư tịch diệt. Ngài trụ thế 81 năm, có 56 Hạ lạp.
Hòa
thượng Thích Huyền Tế trải qua một đời tu hành công hạnh
viên minh, Ngài đã kiến tạo nhiều ngôi Tam bảo, Thiền chủ
các trường Hạ, tích cực đào tạo Tăng tài, đóng góp rất
nhiều công đức cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ngài xứng
đáng là bậc Minh sư được truyền tụng và nhớ mãi trong
tâm khảm những người con Phật đất Quảng Ngãi.