HÒA
THƯỢNG
SUVANNA
PANNÀ TĂNG ĐUCH
(1909
– 1984)
Hòa
thượng thế danh Tăng Đuch, pháp danh Suvanna Pannà, sinh ngày
24 tháng 5 năm Kỷ Dậu (1909) nhằm ngày 6 tháng 4 Âm lịch tại
làng Chak-Toô-Tưng thuộc xã Tài Văn, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh
Sóc Trăng.
Ngài
sinh ra trong một gia đình nông dân, thân phụ là ông Tăng Sô
và thân mẫu là bà Neang Thị Tum. Ông bà sinh hai người con
trai duy nhất, người anh lớn chính là Ngài và người em là
Tăng Soi.
Giai
đoạn Ngài ra đời giữa lúc vùng đồng bằng sông Cửu Long
nói chung và Sóc Trăng nói riêng có nhiều diễn biến chính
trị phức tạp liên hệ mật thiết đến đời sống người
nông dân. Lúc này thực dân Pháp đã áp đặt xong nền hành
chính đô hộ để bóc lột, làm giàu nhờ chính lúa gạo của
nông dân làm ra. Trong khi đó cuộc khẩn hoang lập ấp
vẫn đang còn ở quá trình tìm phương cách định hình. Đó
cũng là hoàn cảnh xã hội và gia đình trong suốt quãng đời
ấu thơ của Ngài. Nhờ vào truyền thống tu đạo của gia
đình, nên phần lớn người Khmer vẫn giữ được phong thái
sinh hoạt riêng, mà ở đó tất cả ý nghĩa đời sống đều
không nằm ngoài phạm vi mái chùa.
Năm
Tân Dậu (1921), song thân Ngài nương thừa truyền thống tu
đạo người Khmer, muốn gia đình có một người đứng vào
hàng Tăng sải để thể hiện ước vọng cao xa, đã dẫn Ngài
đến chùa H.Luông Ba-Sắc Bay-Chhao (đọc tắt là: chùa Bay-Chhao)
ở Bãi Sào, Sóc Trăng để bước đầu học làm giới tử
và học chữ Khmer với Ngài trụ trì Ariya Ghosà Lý Ănh. Tuy
nhiên, chỉ vài tháng sau đó do ảnh hưởng sau thế chiến
thứ I, các thế lực thực dân trở lại ra sức củng cố,
hồi phục quyền lực chủ điền người ngoại quốc, khiến
tình hình làng thôn có phần xáo trộn; cộng vào đó do lần
đầu tiên xa nhà nên Ngài xin phép Hòa thượng Bổn sư được
trở về thăm cha mẹ ít lâu rồi sẽ trở lại chùa chuyên
tâm tu học.
Năm
Ất Sửu (1925), khi tình hình đã tạm ổn và trải qua bốn
năm dài phụ lực song thân công việc đồng áng, cũng như
nhận thấy tuổi đã đủ sức tiếp thu kinh điển, Ngài được
song thân khuyên nhủ và trực tiếp đưa Ngài trở lại chùa
Bay-Chhao. Hòa thượng Bổn sư hoan hỷ đón nhận Ngài trở
lại và nhanh chóng cấp đặt thời khóa học để bù lại
thời gian gián đoạn vừa qua. Nhờ sự nỗ lực lớn, không
lâu sau Ngài đã viết thạo chữ Khmer, đọc được Satrà kinh
Khmer-Pàli (kinh viết trên lá muôn).
Năm
Đinh Mẹo (1927), nhận thấy Ngài chuyên cần tinh tấn và đã
có thể xuất gia thọ giới Sa di, nên Hòa thượng Bổn sư
đã cho phép Ngài về nhà xin phép song thân (theo luật của
Phật giáo Khmer). Năm ấy Ngài vừa tròn 19 tuổi, không lâu
sau đó, nhờ vào thuận duyên tác trợ và sự chuẩn bị chu
đáo của song thân, lễ tế độ xuất gia cho Ngài được tổ
chức tại chùa Bay-Chhao do chính Hòa thượng Bổn sư truyền
giới Sa di.
Năm
Mậu Thìn (1928), nhờ vào sự nỗ lực sách tấn, Ngài được
thọ giới Tỳ kheo do Hòa thượng Bổn sư làm Thầy tế độ
và thỉnh Ngài Pannà Visàlatthera Lâm-Pêen làm thầy tuyên ngôn,
Ngài Lâm Sóc làm thầy Yết Ma tại giới đàn Khuôn Sì Mà
chùa Bay-Chhao, chính thức là Tỳ kheo với pháp danh Suvanna Pannà.
Năm
Nhâm Thân (1932) Ngài xin phép Hòa thượng Bổn sư sang nước
Cao Miên học thiền với thiền sư Vipassanà Dhura ở chùa Prêk
Kôoi, huyện Roô-Ka-Koông, tỉnh Kom-Pong-Cham.
Năm
Quý Dậu (1933), Ngài xin phép được trở về Việt Nam truyền
bá thiền học và đã được thiền sư Vippassanà-Dhura đồng
ý tác trợ. Sau khi về Việt Nam đảnh lễ Hòa thượng Bổn
sư, Ngài nhận thấy điều kiện phát triển thiền học vẫn
chưa đủ nhân duyên, nên đến tham học thiền tiếp tục với
Thiền sư Gandhànura ở chùa Th-Lôk (Tro Loôk) ở xã Hiệp Hòa,
huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
Năm
Giáp Tuất (1934), Ngài xin phép Hòa thượng Bổn sư được
đến chùa Th-Kâu ở huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh để nhập
Hạ và được tiếp tục tham học kinh điển, nâng cao kiến
thức Phật pháp hầu có thể đảm đương trách nhiệm hoằng
hóa mai sau. Nơi đây, ngoài kiến thức nội điển lẫn kinh
tạng Nam Tông ra, Ngài còn học viết và đọc được chữ
phổ thông. Thời gian tham học tại đây, Ngài luôn tỏ ra vượt
trội khiến Hòa thượng Thạch Lước ngõ ý muốn lưu giữ
Ngài lại chùa để có thể kế thế mai sau khi Hòa thượng
viên tịch. Trước tấm thạnh tình đó Ngài rất cảm động
nhưng tự nghĩ bản thân còn non hạ lạp, tuổi còn trẻ mà
con đường mở rộng kiến thức Phật pháp hãy còn dài trước
mắt, nên Ngài đã xin được từ chối để tham phương cầu
học.
Khi
vừa kết thúc khóa Hạ tại chùa Th-Kâu, Ngài đảnh lễ Hòa
thượng trụ trì Thạch Lước và quay trở lại chùa Toh-Lôk
để tiếp tục học thiền với Thiền sư Mahà Kim lần nữa.
Chưa đầy hai tháng lưu học tại đây thì lại một lần nữa
Ngài lâm bệnh nặng đành xin trở lại chùa Bay-Chhao tại quê
nhà điều dưỡng.
Năm
Ất Hợi (1935) sau khi trở về chùa được bốn tháng, Ngài
xin phép Hòa thượng Bổn sư được đến chùa Tonl-Sa-Lien An
ở huyện Mỹ Tú, Sóc Trăng để học thiền Pariyattidhamma với
Thiền sư Sơn-Nôong. Trên bước đường tham học cầu đạo,
nơi đây Ngài đã đạt đến đỉnh điểm cao nhất trong suốt
sáu năm dài cư trú tu học, cũng như hoàn thành chương trình
Pàli cùng bộ kinh Khuddaka Nikàya bằng tiếng Pàli; từ đó
Ngài có thể dịch và đọc thuộc lòng ra tiếng Khmer mà không
cần xem qua mặt chữ.
Năm
Tân Tỵ (1941) Ngài đảnh lễ thiền sư Sơn-Nôong xin phép được
trở về chùa Bay-Chhao.
Thời
gian 5 năm ở tại chùa Bay-Chhao, Ngài đã hỗ trợ đắc lực
cho Hòa thượng Bổn sư trong công việc hoằng hóa và trong
các mặt hoạt động xã hội giữa chùa và cộng đồng. Nhờ
vậy uy tín của Ngài đã được khắp nơi biết đến.
Năm
Bính Tuất (1946), chư Tăng và Phật tử ở chùa Seri-Sukhama-Sangama-Men-Chey
Sà-Lôn (đọc tắt là : chùa Sà-Lôn) nhận thấy sau khi Hòa
thượng trụ trì Thạch-Chea viên tịch không có vị nào cao
tuổi Hạ để đảm đương trách nhiệm kế thế trụ trì.
Vì thế đã đến xin Hòa thượng Bổn sư tiến cử Ngài đến
để tân nhậm trụ trì hướng dẫn chư Tăng và Phật tử
tu học. Ngài hoan hỷ nhận lời nhưng Ngài muốn năm sau khi
tròn 39 tuổi mới chính thức đến đảm nhiệm.
Năm
Đinh Hợi (1947) Ngài đến chùa Sà-Lôn tân nhậm trụ trì,
trở thành vị trụ trì thứ 9 của ngôi cổ tự này ( ) ở
xã Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Chùa Sà-Lôn
tọa lạc giữa trục quốc lộ liên tỉnh Sóc Trăng – Bạc
Liêu, rất thuận lợi cho việc hoằng hóa độ sanh.
Năm
Canh Dần (1950) Ngài tự tay vẽ bản thiết kế và chỉ đạo
việc xây cất Tăng xá bằng bê tông cốt thép cao 2 tầng dài
hơn 20 mét, nằm ở phía Tây sau chánh điện. Công trình này
hoàn tất sau 5 năm xây dựng, được Phật tử, khắp nơi ủng
hộ.
Năm
Ất Mùi (1955) Ngài đã bắt đầu đề xướng việc trùng tu,
tôn cao chánh điện đã xuống cấp trầm trọng theo thời gian.
Nhưng do hoàn cảnh chiến tranh cộng vào tài chánh eo hẹp nên
công việc chỉ dừng lại ở mức tôn cao phần nền. Mãi đến
năm Kỷ Dậu (1969) mới đổ được hàng cột và từ đó công
việc cứ tiến hành cầm chừng theo thời cuộc nhiễu nhương.
Cho đến năm Tân Dậu (1981) toàn bộ công trình mới hoàn tất
theo sở nguyện. Tuổi đời của Ngài cũng bị cuốn hút vào
công trình đại nguyện ấy, lúc ngoảnh lại đã 73 tuổi.
Do đó Ngài nhanh chóng hội bàn cùng Tăng chúng và Phật tử
tổ chức ngay lễ Kết giới Simà để khánh thành công trình.
Thời
gian thúc bách bên hông bên Ngài ra sức kiến tạo thêm các
cơ sở hạng mục chung quanh chùa như giếng nước, tráng nhựa
đường vào chùa, bên cạnh công việc giảng dạy thiền hành,
kinh Pàli... liên tục không một ngày dừng nghỉ tạo nên cảnh
tu học sinh động ở tại chùa Sà Lôn đã khởi sắc này,
cũng từ đó Ngài luôn được suy cử làm Hòa thượng đàn
đầu cho các Giới đàn tại đây, tế độ cho nhiều thế
hệ xuất gia làm Sa di và Tỳ kheo giới.
Năm
Ất Sửu (1985) giữa lúc công cuộc hoằng hóa và bao dự định
tu học, trùng hưng khác chưa thực hiện được, thì Ngài thọ
bệnh để rồi không lâu sau đó, Ngài thị tịch vào lúc 22
giờ ngày 6 tháng 9 (nhằm ngày 22 tháng 8 Âm lịch) thọ 77 tuổi
đời, 58 tuổi Hạ.