HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TƯỜNG VÂN
(1899
– 1983)
Hòa
thượng Thích Tường Vân, pháp danh Nguyên Hương, nối hệ
đời 42 dòng Lâm Tế Trí Thắng Bích Dung. Ngài thế danh Lê
Quát, sinh năm Kỷ Hợi (1899), nhằm năm Thành Thái thứ 10 –
tại làng Hội An, huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận.
Ngài
sinh ra và thừa hưởng sự giáo dục trí đức bằng tinh thần
Nho học chuyên chính và Phật học cao đẹp. Nhờ đó, Ngài
sớm có được phong thái đỉnh đạc và nhận định mọi
lẽ mạch lạc từ song thân truyền đạt .
Năm
Giáp Dần (1914), đây là khoảng thời gian Ngài được tăng
bổ những nhận thức về thời cuộc, vì luôn được phụ
thân nhờ Ngài liên lạc mời các cụ đến nhà bàn bạc thi,
lễ và thời sự. Ấn tượng đáng nhớ trong Ngài lúc này
là nghe các cụ trò chuyện với phụ thân về hành động yêu
nước của một thanh niên 18 tuổi, tự xưng là hậu duệ của
vua Hàm Nghi, đó là Phan Xích Long, người thành lập “Hội
Kín” chủ trương đánh Pháp. Khi tổ chức này bị phát hiện
và Pháp đã bắt được vị này ngay tại quê hương Bình Thuận,
trên đường lánh mặt, trước đó một năm (1913).
Trong
một lần đi liên lạc cho phụ thân, nhờ nhân duyên đưa đẩy,
Ngài đã đến xin quy y với Hòa thượng Tâm Hiền, Tổ khai
sơn chùa Long Đoàn, núi Trà Cú, được Hòa thượng ban pháp
danh là Nguyên Hương.
Cũng
trong năm này, đại chiến thế giới thứ I bùng nổ (1914 –
1918), song thân Ngài ra vào các xứ Thuận Quảng như con thoi,
một phần cũng để tìm lại số thân bằng quyến thuộc đang
lâm vào cảnh loạn ly bởi thời cuộc. Thêm vào đó, hàng
loạt sự kiện liên tiếp xảy ra, như cuộc khởi nghĩa của
vua Duy Tân, Trần Cao Vân, Thái Phiên đã lan tràn xuống các
tỉnh phía Nam mà vùng đất Bình Thuận luôn là nơi tạm lánh
của không ít sĩ phu yêu nước. Trong bối cảnh đó, Ngài nguyện
xả thân thực hiện các công việc xã hội, đóng góp xoa dịu
nỗi đau chung và cũng để vâng lời thầy tổ hằng khuyên
bảo.
Năm
Kỷ Mão (1939), nhận thấy cuộc đời ít vui nhiều khổ mà
con người cứ mãi say đắm lăn lộn, thậm chí gây khổ cho
nhau, Ngài chiêm nghiệm chỉ có đạo pháp là con đường thoát
khổ duy nhất, Ngài dứt khoát rủ bỏ tất cả, đến cầu
xuất gia với Hòa thượng Vĩnh Sung, chùa Bửu Long, xã Phú
Long, được Hòa thượng ban pháp hiệu là Tường Vân.
Sau
khi xuất gia, Ngài vân du khắp nơi trong tỉnh Bình Thuận để
cầu tham học với các tổ, các pháp lữ, đồng thời đem
kiến thức Phật học phổ biến khắp nơi. Sâu thẳm trong
mục đích cuộc vân du đó còn có ý muốn dò la trong các thân
hữu của phụ thân Ngài trước kia, để có thể tìm lại
và biết được tường tận, chính thức hoạt động kháng
Pháp của phụ thân Ngài.
Trong
quá trình đó, ngay tại huyện đảo Phú Quý, Ngài thành lập
Hội Tịnh độ và đã quy tụ rất đông Phật tử tìm đến
thọ pháp, tu học.
Năm
Tân Tỵ (1941), Ngài được sơn môn cung thỉnh làm Giáo Thọ
A Xà Lê tại Đại giới đàn chùa Xuân Quang (Hòa thượng Thiện
Tường chùa Vạn Thọ – Sài Gòn đã thọ Tỳ kheo tại giới
đàn này).
Năm
Nhâm Ngọ (1942), Ngài được thỉnh làm Yết Ma A Xà Lê tại
Đại giới đàn chùa Xuân Quang.
Năm
Giáp Thân (1944), Ngài làm Yết Ma kiêm Hóa chủ tại giới đàn
chùa Linh Sơn, đảo Phú Quý, và khai sơn chùa Liên Hoa.
Từ
đây, Ngài trở về chuyên tu mật hạnh và nhiếp hóa đồ
chúng tại những nơi Ngài có trách nhiệm đảm đang. Thời
gian 20 năm này cũng một phần do chiến cuộc, thời thế và
những biến đổi sâu sắc của đất nước. Một số pháp
lữ sơn môn và không ít đệ tử, Phật tử của Ngài tham
gia Hội Phật giáo Cứu quốc cũng như các việc xã hội khác.
Ngài cũng có không ít hoạt động cả đạo lẫn đời, rồi
việc thân phụ Ngài qua đời v.v... Nhưng tiếc rằng do mật
hạnh của Ngài, đến ngày nay chưa có dữ kiện nào trong thời
gian này được lưu lại.
Năm
Mậu Tuất (1958), Ngài được đồ chúng cung thỉnh trụ trì
chùa Liên Thành – Phú Long.
Năm
Canh Tý (1960), để góp sức tiếp tục thổi bùng làn gió chấn
hưng Phật giáo đang thời kỳ phát triển mạnh. Ngài chủ
súy chấn hưng triệt để Phật giáo tỉnh Bình Thuận, củng
cố sơn môn Tăng Già, trang nghiêm Phật giáo. Việc trước
mắt là Ngài hiệp lực cùng chư Hòa thượng : Phước Nhàn,
Phước Như, Vĩnh Thọ đứng ra tạo lập Tòng Lâm Vạn Thiện
– Phan Thiết – để làm cơ sở tu học cho chư Tăng, Ngài
được sơn môn cử giữ chức Đệ nhất trụ trì Tòng Lâm
này.
Năm
Quý Mão (1963), Ngài kêu gọi Tăng tín đồ tỉnh nhà đáp ứng
hiệu triệu của Hòa thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết,
đứng lên đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo trước nạn
đàn áp kỳ thị của chế độ Ngô Đình Diệm.
Năm
Giáp Thìn (1964), Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
được thành lập, Ngài được cử đảm nhiệm chức Đặc
ủy Tăng sự tỉnh Bình Thuận.
Năm
Canh Tuất (1970), ý thức trước trách nhiệm phát triển của
Phật giáo tỉnh nhà, Ngài đích thân vận động thành lập
Phật học Viện Nguyên Hương có tầm vóc và ý nghĩa nhiều
mặt. Ngài lại được tín nhiệm giao trọng trách Giám Viện.
Theo Ngài, bất kỳ một vị Sứ giả Như Lai nào có hoài bão
thiết tha với vận mệnh của Phật giáo, thì cũng đều dành
hết thời gian tâm, trí, lực cho trọng trách này.
Năm
Tân Dậu 1981, sau khi Phật giáo hai miền Nam – Bắc đã thống
nhất, Ngài được cung thỉnh ngôi vị Chứng minh Đạo sư
cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Thuận.
Năm
Quý Hợi 1983, tuổi cao sức yếu, Ngài đã an nhiên thị tịch
vào lúc 12 giờ ngày mùng 03 tháng 02 năm Quý Hợi, thọ thế
84 năm, giới lạp 44 mùa Hạ. Nhục thể của Ngài được nhập
bảo tháp tại Tòng Lâm Vạn Thiện.