HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TÂM AN
(1892
– 1982)
Hòa
thượng họ Đào, pháp danh Tâm An, pháp hiệu Từ Tuệ, sinh
giờ Tuất ngày 12 tháng 11 năm Nhâm Thìn (1892) trong một gia
đình nông dân nghèo vùng quê Nam Định. Năm 16 tuổi mồ côi
cha, Ngài vừa lao động kiếm tiền nuôi mẹ, vừa chăm lo đèn
sách dùi mài kinh sử, ngõ hầu tiến xa trên bước đường
khoa cử.
Năm
19 tuổi Ngài được người bạn Nho học mộ đạo Phật, hướng
dẫn đầu Phật xuất gia tại chùa Phổ Quang – Hà Đông.
Ngài nhập môn học đạo chưa bao lâu, nghe tin mẹ đau nặng
không ai phụng dưỡng. Ngài hiểu rằng : “Phụ mẫu tại
đường như chư Phật tại thế” phải làm tròn chữ hiếu,
nên xin phép sư trưởng về quê, từ đó ngoài giờ làm việc
bảo đảm cuộc sống mẹ con, Ngài vẫn ấp ủ hoài bão xuất
gia học đạo báo ơn cha mẹ.
Năm
Quí Sửu – 1913, lúc Ngài 22 tuổi, huyên đường quy ẩn tổ
tiên. Sau khi lo lễ tang chu tất, Ngài tạm biệt xóm làng, họ
hàng đến chùa Vân Mai tỉnh Nam Hà xin sống cuộc đời phạm
hạnh, được Hòa thượng Thích Khai Quyền chấp thuận, sớm
tối hầu thầy học đạo, chuyên tâm tu tập noi gương tiên
hiền cổ đức.
Năm
Giáp Dần – 1914, với trí thông minh, cùng sự cố gắng tinh
cần nên năm 23 tuổi, Ngài được cầu Sa di thập giới tại
chùa Vân Mai với Hòa thượng Thích Khai Quyền. Tiếp đó năm
24 tuổi, nhân ngày khánh đản đức Phật A Di Đà (17-11 Ất
Mão – 1915) Ngài được thụ giới Cụ túc tại giới đàn
Tế Xuyên – Bảo Khám, do Sư tổ Phổ Tụ làm Đường đầu
truyền giới.
Từ
đây Ngài chuyên trì giới luật, tiến đạo nghiêm thân, luôn
theo hầu Sư tổ Phổ Tụ – Tế Xuyên, bậc danh Tăng mà hương
đức hạnh tỏa khắp Bắc kỳ lúc đó, được Sư tổ cho
chuyên học luật tạng, tham học nơi các bậc cao Tăng ở các
khóa Hạ an cư như trường : Tế Xuyên – Hà Nam, trường Quế
Phương – Nam Định.
Năm
Canh Thân – 1920 (29 tuổi), nhờ trình độ Nho học giỏi, chữ
viết tốt, tính cẩn thận, cần mẫn; phụng mệnh Sư tổ
Tế Xuyên, Ngài tới chùa Vĩnh Nghiêm, Đức La – Bắc Giang,
chép bộ “Hoa Nghiêm sớ kinh” để Sư tổ cho khắc ván ấn
hành. Tại chốn tổ Vĩnh Nghiêm, Ngài được Sư tổ Thích
Thanh Hanh truyền thụ “Bồ Tát giới” để viên mãn hạnh
nguyện.
Năm
Nhâm Tuất – 1922, sau khi cùng huynh đệ sao chép xong bộ Hoa
Nghiêm sớ kinh, Ngài lại phụng mệnh Sư tổ Vĩnh Nghiêm, đến
viện Viễn Đông Bác Cổ sao chép “Phẩm Phổ Hiền”, vì
lúc này kinh điển Phật giáo bị người Pháp thu đem về lưu
trữ tại viện Viễn Đông Bác Cổ – Hà Nội. Sang năm 1923
sao chép kinh “Đại Bảo Tích” và luật “Trùng Trị”;
đến đầu năm 1924 sao chép bộ “Tỷ Khưu Ni Sao”.
Năm
Giáp Tý – 1924, phụng mệnh Sư trưởng sắp đặt, Ngài bắt
đầu với công việc “trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng”,
nhận chùa Quốc Sư, thị xã Hưng Yên, nơi có phố Hiến nổi
tiếng một thời “thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”
chính là ngôi cổ tự Ngài trụ trì.
Năm
Ất Sửu – 1925, tiếp tục nhận lời mời của Sư tổ Thông
Toàn, chùa Bà Đá – Hà Nội, Ngài trở về tổ đình sao chép
kinh “Đại Bảo Tích” và “Thức Xoa giới bản” để khắc
ván ấn hành, công việc kéo dài 3 năm; tiếp đến là sao chép
bộ “Tỷ Khưu Ni Sao” tới năm 1939 mới hoàn tất.
Năm
Bính Tý – 1936, Nghiệp sư Ngài viên tịch tại chùa Quốc.
Ngoài việc chăm lo phục vụ tín ngưỡng, Ngài đã qui tụ
hàng trăm Tăng Ni trong tỉnh về mở trường dạy học. Ngài
chú trọng tới môn luật học, lo cho Phật pháp mai sau thiếu
luật, kỷ cương lỏng lẻo. Khi đến mùa Hạ an cư, Ngài được
mời tham dự các trường Gia Hòa – Nam Định; Tế Xuyên, Cao
Đà – Hà Nam. Đến đâu Ngài cũng được mời làm Duy Na cương
lĩnh trong chúng. Trong các giới đàn tỉnh Hưng Yên, Hà Nam,
Quán Sứ – Hà Nội, Ngài đã ứng thỉnh ngôi Giới sư, Tuyên
luật sư.
Năm
Mậu Tuất – 1958, hòa bình lập lại ở miền Bắc, Hội Phật
giáo Thống nhất Việt Nam ra đời, Ngài được mời tham gia
Ban Trị sự Trung ương Hội Phật giáo. Qua đến các nhiệm
kỳ sau, Ngài được cử chức vụ phó Hội trưởng kiêm trụ
trì chùa Quán Sứ – Hà Nội. Với cương vị giáo phẩm cao
cấp, Ngài đã cùng quý Hòa thượng Thích Trí Độ, Thích Đức
Nhuận và cư sĩ Tâm Minh – Lê Đình Thám chèo lái con thuyền
Phật giáo vượt qua khó khăn trở ngại thời kỳ chiến tranh
đánh phá miền Bắc. Thời gian này tuy không mở được trường
chính quy, song chư Tăng Ni sinh vẫn đến theo học với Ngài,
kể cả những năm giặc Mỹ leo thang đánh phá ác liệt miền
Bắc. Ngài cùng quý Hòa thượng cao cấp khác đã sơ tán về
chùa Mía – Sơn Tây và việc dạy Tăng Ni học tập vẫn tiếp
tục duy trì.
Năm
1963, Ngài được cử làm trưởng đoàn giáo phẩm cao cấp
sang Trung Quốc dự hội nghị do Hội Phật giáo châu Á tổ
chức, để ủng hộ miền Nam Việt Nam chống Mỹ Diệm.
Về
mặt đối ngoại, Ngài đã đóng góp phần quan trọng trong
việc mở rộng tầm quan hệ giao lưu với quý Hòa thượng
miền Nam và Phật giáo quốc tế. Về việc xã hội, Ngài lại
càng cố gắng mặc dầu Phật sự đa đoan. Với đạo đức,
học thức uyên thâm, Ngài đã được nhân dân tín nhiệm bầu
trúng cử Đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa các khóa 2, 3, 4 và 5.
Năm
Kỷ Dậu – 1969, Trung ương Hội mở trường Tu học Phật
pháp Trung ương tại chùa Quảng Bá – Hà Nội, Ngài được
đề bạt làm phó Hiệu trưởng phụ trách giảng dạy môn
luật tạng.
Năm
Nhâm Tý – 1972, Ngài đề xướng in bộ Nhị khóa hợp giải,
để Tăng Ni có sách học, bộ này do Hòa thượng Trí Độ
giảng dạy, Ngài dạy chư Tăng luật Tứ Phần, Yết Ma Chỉ
Nam, Yết Ma Huyền Ty.
Trong
các khóa Hạ tại chùa Quán sứ, Ngài liên tục được thỉnh
vào ngôi vị Đường chủ lãnh đạo Tăng chúng an cư.
Các
năm 1970, 1972, 1974, Ngài cùng Hòa thượng Thích Trí Độ, Thích
Đôn Hậu, Thích Thiện Hào dự hội nghị Phật giáo châu Á
vì hòa bình (ABCP) tại Mông Cổ và Liên Xô. Ngài là thành
viên tích cực của Hội Phật giáo ABCP tại các Hội nghị.
Ngài đã tham luận nhiều vấn đề bảo vệ hòa bình trên
tinh thần giáo lý đức Phật.
Năm
Giáp Dần – 1977, Trung ương Hội chiêu sinh khai giảng trường
“Trung Tiểu Học Phật Giáo” thời gian 4 năm, tuy tuổi cao
sức yếu nhưng tinh thần vẫn minh mẫn, Ngài hoan hỷ nhận
lời thỉnh cầu của Trung ương Hội đảm trách nhiệm vụ
Hiệu trưởng, làm Bồ đề đại thụ cho hậu học nương
nhờ.
Ngày
13 tháng 9 năm Nhâm Tuất (29.10.1982), lúc 13 giờ thuận lý vô
thường, thân tứ đại có sinh có diệt, Ngài đã an nhiên
thị tịch tại thiền sàng Quán sứ. Thế thọ 91 tuổi, trải
qua 66 mùa Hạ an cư, trong sự nghiệp “thượng cầu Phật
đạo, hạ hóa quần sinh”.
Ngày
nay nhìn lại Hán tạng Kinh Luật Luận đang được lưu truyền
tại các Tổ đình, tự viện; càng tưởng nhớ đến công
lao to lớn của Ngài. Suốt hơn nửa thế kỷ vì Phật giáo
Việt Nam mà Ngài đã tận tụy phục vụ, cũng như công đức
đào tạo Tăng Ni cho Giáo hội mà Ngài đã dày công vun đắp,
tên tuổi Hòa thượng mãi mãi được lưu truyền cùng lịch
sử Phật giáo Việt Nam.