Hòa
thượng THÍCH THANH KIỂM
1920
– 2000
HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THANH KIỂM
(1920
– 2000)
Hòa
thượng Thích Thanh Kiểm, đạo hiệu Chân Từ, thế danh Vũ
Văn Khang, sinh ngày 23 tháng Chạp năm Canh Thân – 1920, tại
làng Tiêu Bảng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Thân phụ là
cụ Vũ Văn Khánh, thân mẫu là cụ Đỗ Thị Thịnh, Ngài là
con thứ tư trong gia đình có 5 anh chị em, 3 trai 2 gái.
Năm
Bính Dần – 1926, khi lên 6 tuổi, Ngài được song thân cho
theo học chữ nho với các cụ đồ ở địa phương. Nhờ sinh
trưởng trong gia đình có truyền thống sùng kính Tam bảo,
có người chị gái đã xuất gia đầu Phật, (sau này là Ni
Trưởng Đàm Hữu), nên hạt giống xuất trần cũng đã sớm
nảy mầm trong Ngài từ thuở ấu thời.
Năm
Ất Hợi – 1935, nhân duyên hội đủ với Ngài khi tuổi 15,
được song thân chấp thuận, vào ngày mồng 9 tháng Chạp Ngài
xin thế phát xuất gia với Sư cụ chùa Liên Đàn, xã Linh Đường,
huyện Thanh Trì, Hà Đông. được Sư cụ thế độ, một năm
sau đó, gửi Ngài đến y chỉ nơi Hòa thượng Thích Thanh Khoát,
trụ trì chùa Bạch Chữ, làng Trung Hậu, tỉnh Phúc Yên (Vĩnh
Phú) để cầu pháp học đạo.
Năm
Mậu Tý – 1938, Ngài được Bổn sư cho phép thọ giới Sa
di tại giới đàn chùa Tây Thiên, làng Trung Hậu, tỉnh Phúc
Yên, do Hòa thượng Thích Thanh Khoát truyền trao giới pháp.
Năm
19 tuổi (1939), một năm sau khi thọ giới Sa di, để mở mang
kiến thức Phật học, làm tư lương tiến tu hành đạo, Ngài
lần lượt du phương tham học nơi trường Phật học ở các
chốn Tổ : Bằng Sở, Trung Hậu, Hương Hải, Cao Phong...
Năm
Nhâm Ngọ – 1942, lúc 22 tuổi, để viên mãn tam đàn giới
pháp, Ngài được Bổn sư cho thọ Cụ túc giới tại giới
đàn chùa Linh Ứng, làng Trung Hậu, tỉnh Phúc Yên do Hòa thượng
Thích Trừng Thanh làm Đàn đầu truyền giới.
Thời
gian từ 1942 đến 1950, phong trào chấn hưng Phật giáo đã
lan rộng khắp 3 miền, các lớp Phật học để đào tạo Tăng
tài làm rường cột cho Phật giáo được mở ra tại chùa
Quán Sứ và Bồ Đề ở Hà Nội, do các bậc thạc đức của
Hội Bắc Kỳ Phật giáo như Tổ Cồn, Tổ Quảng, Tổ Ngũ
và các Hòa thượng Trí Hải, Thái Hòa, Tố Liên... trực tiếp
đào tạo giảng dạy. Ngài đã tham dự các khóa học này và
đã hoàn tất chương trình Cao đẳng Phật học cùng với huynh
đệ đồng môn là Hòa thượng Thích Tâm Giác.
Năm
Tân Mão – 1951, Giáo hội Tăng Già toàn quốc được thành
lập từ Giáo hội Tăng Già ở 3 miền đất nước hợp lại.
Riêng với Giáo hội Tăng Già Bắc Việt (là hậu thân của
Giáo hội Tăng Ni chỉnh lý Bắc Việt do Hòa thượng Thích
Tố Liên đã dày công khởi xướng vận động từ năm 1949),
Ngài được đề cử làm Thư ký Giáo hội Tăng Già Bắc Việt,
kiêm Giảng sư thay thế cho Hòa thượng Tố Liên đảm nhận
chức Tổng thư ký Giáo hội Tăng Già toàn quốc.
Năm
Quý Tỵ – 1953, trong chương trình đào tạo Tăng tài cho Phật
giáo của Tổng hội Phật giáo Việt Nam, tại cuộc họp liên
hội giữa Hội An Nam Phật học và Giáo hội Tăng Già Bắc
Việt, đã cử Ngài cùng Hòa thượng Tâm Giác du học tại
Nhật Bản.
Năm
Giáp Ngọ – 1954, Ngài đến Nhật Bản lưu học tại Đại
học đường Rissho, hai vị đều kiên tâm trì chí, chuyên tu
chuyên học về cả Phật học lẫn thế học. Ngài đã lần
lượt hoàn tất các chương trình :
Năm
1959, tốt nghiệp chương trình Cử nhân Phật học.
Năm
1961, tốt nghiệp học vị Tiến sĩ Phật học.
Năm
Nhâm Dần – 1962, sau 8 năm du học, Ngài trở về quê hương
để phục vụ đạo pháp. Lúc này, do hoàn cảnh lịch sử
(sau hiệp định Genève năm 1954), Ngài ở lại miền Nam, cùng
với các pháp lữ và chư tôn đức Tăng Ni, Phật tử tham gia
cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm
đàn áp Phật giáo năm 1963.
Năm
Giáp Thìn – 1964, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
ra đời, Ngài được Giáo hội cử làm Vụ trưởng phiên dịch,
thuộc Tổng vụ Hoằng pháp (Hòa thượng Thích Trí Thủ làm
Tổng vụ trưởng) kiêm Giáo sư Viện Đại học Vạn Hạnh
Sài Gòn (1964 – 1973).
Từ
năm này đến năm 1971, Ngài đã cùng Hòa thượng Tâm Giác
và chư Tăng Ni, Phật tử Miền Vĩnh Nghiêm thuộc Giáo hội
Phật giáo Việt Nam Thống nhất, nỗ lực xây dựng chùa Vĩnh
Nghiêm để làm trụ sở cho Miền và môn phái. Chùa đã hoàn
thành hết sức trang nghiêm tú lệ như ngày nay.
Năm
Quý Sửu – 1973, sau khi Hòa thượng Tâm Giác – Chánh đại
diện Phật giáo Miền Vĩnh Nghiêm - trụ trì Tổ đình Vĩnh
Nghiêm viên tịch, Ngài đã được Giáo hội, Miền cũng như
môn phái Tổ đình Vĩnh Nghiêm suy cử làm Chánh đại diện
Miền kiêm trụ trì Tổ đình cho đến ngày viên tịch.
Năm
Ất Mão – 1975, đất nước thống nhất, Ban Liên lạc Phật
giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh được thành lập, trụ
sở đặt tại chùa Vĩnh Nghiêm. Ngài được cử làm Ủy viên
Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước thành phố, do Hòa thượng
Thích Minh Nguyệt làm Chủ tịch.
Năm
Canh Thân – 1980, để tiến tới thống nhất Phật giáo cả
nước, Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam được
thành lập, do Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Trưởng ban, Ngài
là thành viên Ban Thông tin Tuyên truyền, phục vụ cho công
cuộc vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam.
Năm
Tân Dậu – 1981, tại Đại hội Đại biểu thống nhất Phật
giáo toàn quốc lần thứ I được tổ chức tại thủ đô
Hà Nội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam chính thức ra đời,
Ngài được cử làm Ủy viên Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo
hội Phật giáo Việt Nam.
Năm
Nhâm Tuất – 1982, các tổ chức Phật giáo địa phương lần
lượt hình thành. Trong đại hội Đại biểu Phật giáo thành
phố Hồ Chí Minh lần thứ I (1982) và lần thứ II (1987), Ngài
được đại hội cử làm Ủy viên Kinh tế Nhà chùa và từ
thiện xã hội.
Năm
Ất Sửu – 1985, Ngài được mời làm Giáo sư trường Cao
cấp Phật học Việt Nam cơ sở II tại Thiền viện Vạn Hạnh
thành phố Hồ Chí Minh.
Năm
Mậu Thìn – 1988, khi trường Cơ bản Phật học thành phố
Hồ Chí Minh (nay là trường Trung cấp Phật học) được thành
lập tại chùa Vĩnh Nghiêm, Ngài được cử làm Hiệu phó đặc
trách Giám luật và Ngài giữ trọng trách này đến khi viên
tịch.
Năm
Canh Ngọ – 1990, sau khi Hòa thượng Thích Huệ Hưng (Trưởng
ban Phật giáo chuyên môn thuộc Viện Nghiên cứu Phật học
Việt Nam) viên tịch, Ngài được Hội đồng điều hành Viện
Nghiên cứu Phật học Việt Nam mời làm Trưởng ban Phật giáo
chuyên môn đến năm 1997.
Tại
đại hội Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh nhiệm
kỳ III tổ chức vào hai ngày 20 và 21.4.1990 ở chùa Xá Lợi,
Ngài được suy cử làm Phó Ban Trị sự Thành hội Phật giáo.
Năm
Tân Mùi – 1991, Ngài được cử làm Phó chủ tịch Hội đồng
phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam, phụ trách hiệu đính
và chú thích về luật tạng.
Năm
Nhâm Thân – 1992, tại đại hội đại biểu Phật giáo toàn
quốc lần thứ III, Ngài được suy cử làm Trưởng ban Kinh
tế tài chính Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đồng
thời kiêm nhiệm Phó ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương; Phó ban
Phật giáo Quốc tế của Trung ương Giáo hội.
Năm
Giáp Tuất – 1994, khi Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt
Nam được thành lập tại Hà Nội, Ngài được mời làm Phó
ban Tư tưởng Văn hóa đạo đức Phật giáo.
Năm
Đinh Sửu – 1997, sau đại hội Đại biểu Phật giáo toàn
quốc lần thứ IV, Ngài được suy cử làm Chứng minh Ban Hoằng
pháp Trung ương kiêm Phó Viện trưởng Học viện Phật giáo
Việt Nam tại Hà Nội. Và tại đại hội Phật giáo thành
phố Hồ Chí Minh lần thứ V, Ngài được cử làm Phó ban Trị
sự kiêm Ủy viên Phật giáo quốc tế, rồi Trưởng ban Phật
giáo quốc tế Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh.
Với
trình độ quán thông tam tạng giáo điển và triết học Đông
Tây cổ kim, Ngài đã từng tham gia công tác giảng dạy, giáo
dục và đào tạo Tăng tài cho Phật giáo như : Viện Cao đẳng
Phật học Sài Gòn, trường Cao cấp Phật học, Học viện
Phật giáo Việt Nam; trường Cơ bản Phật học nay là trường
Trung cấp Phật học thành phố Hồ Chí Minh, mà Ngài đã dày
công xây dựng và duy trì từ hơn 10 năm qua.
Qua
giới đức trang nghiêm thanh tịnh, mô phạm chốn tòng lâm,
nên từ những thập niên 60 đến 90, Ngài đã được Giáo
hội thỉnh làm Giới sư, Tôn chứng sư, Chứng minh sư trong
các giới đàn như :
- Tôn
chứng Tăng Già Đại giới đàn Quảng Đức (1964, 1977)
-
Giáo thọ A Xà Lê Đại giới đàn Vĩnh Nghiêm (1967, 1972)
-
Tuyên Luật sư kiêm Giáo thọ Đại giới đàn Thiện Hòa; giới
đàn Thiện Hào do Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí
Minh tổ chức (1984, 1988, 1991)
-
Tôn chứng Tăng Già Đại giới đàn chùa Long Thiền, thành
phố Biên Hòa,tỉnh Đồng Nai (1990)
-
Yết ma A Xà Lê Đại giới đàn Thiện Hòa, Đại Tòng Lâm,
tỉnh Đồng Nai (1992, 1995, 1999)
-
Yết ma A Xà Lê Đại giới đàn Linh Giác, thành phố Đà Lạt,
tỉnh Lâm Đồng (1994)
-
Đường đầu Hòa thượng Đại giới đàn chùa Khánh Quang,
tỉnh Cần Thơ (1997)
-
Tuyên Luật sư kiêm Yết ma A Xà Lê Đại giới đàn tỉnh Lâm
Đồng (năm 1998)
-
Đường đầu Hòa thượng Đại giới đàn Đại Tòng Lâm,
tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (năm 2000)
Trong
sự nghiệp hoằng dương chánh pháp, tiếp dẫn hậu lai, báo
Phật ân đức, Ngài đã dày công biên soạn nhiều tác phẩm
văn hóa, giáo dục, Phật học được in thành sách lưu lại
hậu thế như :
- Diễn
Thuyết Tập, Hà Nội, 1951
-
Phật Pháp Sơ Học, Hà Nội, 1952
-
Nghiên Cứu Về Tư Tưởng Bản Giác Của Phật Giáo, Nhật
Bản
-
Lược Sử Phật Giáo Trung Quốc, Sài Gòn, 1967
-
Lược Sử Phật Giáo Ấn Độ, Sài Gòn, 1969
-
Thiền Lâm Bảo Huấn, Sài Gòn 1972
-
Sách Dạy Cắm Hoa, Sài Gòn, 1973
-
Đại Cương Luật Học, Tp. Hồ Chí Minh 1990
-
Lược Giảng Kinh Pháp Hoa, Tp. Hồ Chí Minh, 1991
-
Kinh Viên Giác, Tp. Hồ Chí Minh, 1992
-
Pháp Hoa Yếu Lược, Tp. Hồ Chí Minh, 1994
-
Luận A Tỳ Đàm – Câu Xá, Tp. Hồ Chí Minh, 1995
-
Khóa Hư Lục, Tp. Hồ Chí Minh, 1996
Và
nhiều bài viết có giá trị đăng trên các báo Phật giáo
như : Phương Tiện, Đuốc Tuệ, Vạn Hạnh, Lửa Từ Bi, Giác
Ngộ, Tập Văn, Phật Giáo, Tạp Chí Phật Học Hà Nội...
Bằng
tinh thần giới luật, qui củ tòng lâm, từ năm 1983 đến 1989,
Tổ đình Vĩnh Nghiêm được Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí
Minh chọn làm nơi mở Hạ an cư cấp Thành phố, Ngài luôn
luôn được cử làm Hóa chủ để chuyên lo về việc tu học,
tứ sự cho chư Tăng, góp phần thành tựu các khóa kiết Hạ
của Thành phố. Từ năm 1990 trở đi, Ngài làm Thiền chủ
kiêm Hóa chủ các khóa Hạ do Tổ đình Vĩnh Nghiêm và trường
Cơ bản Phật học tổ chức, cho Tăng Ni sinh cùng chư Tăng
trong môn phái vân tập về tu học, thúc liễm thân tâm, trau
dồi Giới-Định-Tuệ đều nương nhờ phần lớn công đức
của Ngài.
Để
đền đáp công ơn Sư trưởng nơi chốn Tổ xưa từng nương
thân học đạo, Ngài đã cùng Sơn môn pháp phái nỗ lực trùng
tu chốn Tổ Trung Hậu, tỉnh Vĩnh Phú được hoàn thành trang
nghiêm tú lệ. Ngài còn chăm lo xây dựng Bảo tháp Cộng đồng;
Thiền đường; Thanh trai đường tại chùa Vĩnh Nghiêm, thành
phố Hồ Chí Minh, để xứng đáng là cơ sở Phật giáo tiêu
biểu tại địa phương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Với
công đức đã cống hiến một đời cho đạo pháp và nhân
sinh, xã hội, Ngài được Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam trao tặng Huy chương “Vì Sự Nghiệp Đại
Đoàn Kết Toàn Dân” và nhiều Huy chương, bằng khen, giấy
khen khác trong đó có bằng “Tuyên dương Công đức” của
Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Ngày
30 tháng 12 năm 2000, nhằm ngày mùng 5 tháng Chạp năm Canh Thìn,
vào lúc 1 giờ 30 phút, thuận lý vô thường, Hòa thượng đã
an nhiên thị tịch, trụ thế 80 năm, 58 Hạ lạp. Môn đồ
pháp quyến xây bảo tháp an trí nhục thân Ngài trong khuôn
viên Tổ đình Vĩnh Nghiêm, thành phố Hồ Chí Minh.
Cuộc
đời Ngài là một mẫu mực tài đức vẹn toàn, một bậc
Chân sư chốn thiền lâm, danh tiếng Ngài cả 3 miền đất
nước đều kính ngưỡng. Đạo hạnh ấy vẫn đọng mãi trong
lòng Tăng Ni hậu tấn một hình bóng cao quý để tôn thờ
và noi gương học tập.