HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THIÊN ÂN
(1925
– 1980)
Hòa
thượng Thích Thiên Ân, thế danh Đoàn Văn An, sinh ngày 22 tháng
9 năm Ất Sửu 1925, tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh
Thừa Thiên. Thân phụ của Ngài là Đoàn Mễ, sau xuất gia
là Thượng tọa Thích Tiêu Diêu một bậc tử đạo Vị pháp
thiêu thân, thân mẫu là một tín nữ chuyên lo công quả ở
chùa Báo Quốc và tu viện Quảng Hương Già Lam, Ngài là con
trai thứ trong một gia đình có 4 anh em.
Ngài
xuất thân trong một gia đình thế gia vọng tộc, có truyền
thống kính tin Phật pháp lâu đời. Nhờ duyên gần gũi Tam
bảo từ thuở nhỏ, Ngài đã sớm mến cảnh thiền môn với
tiếng kệ câu kinh, nên năm lên 10 tuổi (1935), Ngài theo bước
phụ thân xin xuất gia đầu Phật tại chùa Báo Quốc, làm
đệ tử của Hòa thượng Phước Hậu, được Bổn sư ban
pháp danh là Thiên Ân, Ngài tinh tấn chấp tác, học tập thiền
môn qui tắc, hầu cận sư trưởng.
Năm
Tân Tỵ 1941, khi được 16 tuổi, Ngài được Bổn sư cho thọ
giới Sa di tại giới đàn chùa Quốc Ân – Huế, do Hòa thượng
Đắc Quang làm Đường đầu truyền giới.
Năm
Mậu Tý 1948, Ngài thọ Cụ túc giới tại giới đàn Hộ Quốc
Đàn, tổ chức tại Tổ đình Báo Quốc, do Hòa thượng Tịnh
Khiết làm Đường đầu truyền giới. Đồng khóa với Ngài,
còn có các vị Minh Châu; Đức Tâm; Minh Tánh...
Năm
Giáp Ngọ 1954, với khả năng Phật học và thế học xuất
chúng, Ngài được chư tôn đức cho xuất dương du học tại
Nhật Bản. Đến nước Nhật, Ngài vào học ở Đại học
đường Waseda, là một trường đại học nổi tiếng. Trải
qua 6 năm miệt mài đèn sách, Ngài đậu Tiến sĩ Văn Chương
vào năm 1960, sau đó Ngài về nước, trong khi chờ Giáo hội
bố trí công tác, Ngài nhận lời thỉnh giảng ở các trường
đại học.
Năm
Tân Sửu 1961, với mơ ước thành lập một viện đại học
riêng của Phật giáo. Ngài được lời khuyên của các vị
tôn túc lãnh đạo Giáo hội, cần phải trau giồi thêm kinh
nghiệm, phương pháp quản lý một đại học Phật giáo có
tầm cỡ quốc tế. Vì thế Ngài lại xuất dương để tu nghiệp.
Đến Nhật Bản lần này, Ngài đã tìm học pháp môn Thiền
Rinzai (Lâm Tế) chính thống của các thiền sư Nhật Bản và
thành tựu được sở nguyện này.
Năm
Quý Mão 1963, thời cuộc chính trị trong nước đã không thuận
lợi như ý định, do sự đàn áp Phật giáo của chính quyền
Ngô Đình Diệm, dẫn đến cuộc đấu tranh của Phật giáo
đồ trên toàn miền Nam Việt Nam. Nặng lòng vì đạo pháp,
Ngài bèn trở về nước cùng chư tôn đức lãnh đạo Giáo
hội và Tăng Ni Phật tử tham gia công cuộc đấu tranh. Ngài
bị chính quyền Diệm bắt giam chung với chư tôn đức lãnh
đạo trong cuộc tổng tấn công các chùa vào ngày 20 tháng
8 năm 1963, đòn cuối cùng báo hiệu trước sự sụp đổ của
một chính quyền bạo tàn.
Năm
Giáp Thìn 1964, sau pháp nạn, Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thống nhất được thành lập. Ngài được cử làm Ủy viên
Phật học vụ thuộc Tổng vụ Tăng sự. Ngày 13 tháng 3 cùng
năm, Viện Cao đẳng Phật học được thành lập do Hòa thượng
Thích Trí Thủ làm Viện trưởng, Hòa thượng Thích Minh Châu
làm Phó Viện trưởng, Ngài làm Giáo Thọ trưởng. Thời gian
đầu tiên, Viện Cao đẳng Phật học đặt tại chùa Pháp
Hội ở đường Phan Thanh Giản, Sài Gòn, có hai lớp học giảng
dạy tại chùa Xá Lợi, quận Ba – Sài Gòn.
Năm
Bính Ngọ 1966, Ngài được Cơ quan Văn hóa Á Châu của Liên
hiệp quốc mời hợp tác giảng dạy trong chương trình trao
đổi giáo sư. Mùa hè năm ấy, Ngài lên đường sang Mỹ quốc,
giảng dạy tại Đại học đường Nam California ở thành phố
Los Angeles, với tư cách là Giáo sư thỉnh giảng về ngôn ngữ
và triết học. Tại đây, Ngài được sinh viên yêu cầu dạy
phương pháp thực hành thiền định và sau đó lập nên nhóm
nghiên cứu Phật học đầu tiên.
Năm
Đinh Mùi 1967, sau khi kết thúc chương trình giảng dạy Đại
học đường, Ngài dự định sẽ về Việt Nam, nhưng thiền
sinh, sinh viên Mỹ thỉnh cầu Ngài ở lại để hướng dẫn
tu học. Ngài được xem là vị Tăng sĩ Việt Nam đầu tiên
hoằng pháp tại nước Mỹ. Khởi đầu, Ngài thuê một căn
hộ ở phía nam đại lộ Vermont – Los Angeles để hướng dẫn
sinh viên Mỹ học thiền theo truyền thống Nhật Bản. Do ngày
càng đông giới thanh niên Mỹ theo học, Ngài thành lập Trung
tâm Thiền học Quốc tế (International Buddhist Meditation Center)
tọa lạc tại South New Hampshire – Los Angeles. Ngay từ những
ngày đầu thành lập, đã có nhiều sinh viên Mỹ xin xuất
gia tu học; nổi bật trong số đó có Sư cô Karuna Dharma, là
một Tiến sĩ Phật học, người kế tiếp sự nghiệp của
Ngài sau này.
Kế
tiếp ba năm sau đó, Ngài xây dựng một ngôi chùa lấy tên
là chùa Phật Giáo Việt Nam, ngôi chùa Việt đầu tiên trên
đất Mỹ cho cộng đồng người Việt ở California có nơi
quy tụ chiêm bái và tu học.
Tháng
10 năm 1973, Ngài kết hợp với các nhà giáo dục Mỹ, Nhật,
Triều Tiên, Tây Tạng, Tích Lan để sáng lập trường Đại
học Đông Phương (University of Oriental Studies), một nơi thu
hút đông đảo sinh viên Mỹ ghi danh học Phật học, ngôn ngữ
và triết học phương Đông.
Năm
Giáp Dần 1974, Ngài tổ chức Đại giới đàn để truyền
giới Tỳ kheo, Tỳ kheo ni và Pháp sư (Nhà truyền giáo cư sĩ
25 giới) cho người Mỹ đến tu học với Ngài. Trong quá trình
hoằng pháp ở Mỹ, Ngài quan tâm đến việc đào tạo thêm
nhiều Pháp sư cư sĩ, người có thể đi vào mọi tầng lớp
xã hội phương Tây để truyền dạy chân lý nhà Phật.
Đầu
tháng 9 năm 1980, Ngài cảm thấy pháp thể khiếm an, bác sĩ
cho biết Ngài mắc phải bệnh nan y do u não và ung thư gan,
nhưng Ngài vẫn tiếp tục miệt mài với công tác hoằng pháp.
Trong những tháng cuối cùng của cuộc đời, người ta thường
nhìn thấy Ngài ngồi một cách thanh thản trên các bậc thang
của tháp chuông, họ cảm phục năng lực tinh thần của Ngài
kiên định vượt qua sự cam chịu của tật bệnh.
Ngày
23 tháng 11 năm Canh Thân 1980, Ngài đã viên tịch ở tuổi 75,
với 52 Hạ lạp. Ngài ra đi trong sự tiếc thương đưa tiễn
của hàng trăm ngàn người Việt tại Mỹ và hàng ngàn thiền
sinh người Mỹ học trò của Ngài. Một Thiền sinh người
Mỹ nói : “Ngài là sức mạnh, là chỗ dựa trong đời sống
tu tập của chúng tôi. Ngài đã dạy chúng tôi biết thế nào
là sự vô thường, biến loạn của vạn vật, nhưng chúng
tôi không nghĩ là mất Ngài sớm như vậy”.
Trong
cuộc đời hoằng pháp lợi sanh, Ngài đã để lại dấu ấn
cho đời qua các tác phẩm :
- Phật
Pháp (viết chung với 3 tác giả)
-
Trao đổi văn hóa Việt – Nhật
-
Buddhism and Zen in Vietnam.
Sự
nghiệp hoằng pháp của Hòa thượng Thích Thiên Ân được
các đệ tử của Ngài kế thừa và phát triển mạnh mẽ trên
đất Mỹ. Ngài xứng đáng là một Tăng sĩ Việt Nam tiêu biểu
trong số các nhà Sư châu Á đầu tiên hoằng pháp trên đất
Mỹ.