HÒA
THƯỢNG
THÍCH
HUỆ HÒA
(1915
– 1980)
Hòa
thượng pháp danh Niệm Hòa, pháp tự Hồng Từ, pháp hiệu
Huệ Hòa. Ngài thế danh là Huỳnh Văn Nhành, sinh năm Ất Mão
(1915) tại xã Bình Chánh, Tam Bình, quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ
Tho (Tiền Giang), thân phụ là cụ ông Huỳnh Văn Kiện, thân
mẫu là cụ bà Trần Thị Khuê. Ngài là con thứ mười trong
gia đình có nhiều anh em. Gia đình Ngài nhiều đời hấp thụ
Nho giáo, hiền lương rất mực, trong gia tộc Ngài có hai vị
xuất gia tu Phật.
Thuở
nhỏ Ngài thường theo mẹ đến chùa Hưng Long, xã Phú Quý
lễ Phật nghe kinh, cũng từ đấy thiện căn sẵn có dần dà
kết nụ. Năm 16 tuổi (1929 – Kỷ Tỵ), Ngài phát tâm xuất
gia với Hòa thượng Huệ Tiên, chùa Hưng Long, được Hòa thượng
hứa khả thế phát và cho pháp danh là Niệm Hòa.
Năm
1932 (Nhâm Thân), lúc này Ngài vừa tròn 17 tuổi, Hòa thượng
Bổn sư cho Ngài thọ Sa di giới tại trường Kỳ chùa Minh
Đức, xã Phú Túc, Bến Tre.
Năm
1933 (Quý Dậu), Ngài sang Mỹ Tho nhập chúng học kinh luật
tại chùa Vĩnh Tràng dưới sự giảng dạy của Hòa thượng
Quảng Ân, tọa chủ chùa Linh Phước – Phật Đá.
Năm
1934 (Giáp Tuất), Ngài sang Sa Đéc cầu pháp với Hòa thượng
Chánh Thành chùa Vạn An, được Hòa thượng cho pháp hiệu
là Huệ Hòa, húy Hồng Từ. Sau đó Ngài ở lại đây tu học,
cũng trong năm này Ngài được đăng đàn thọ Cụ túc giới.
Năm
1936 (Bính Tý), bổn đạo chùa Hưng Lâm xã Giao Long (Bến Tre)
thỉnh Ngài về trụ trì. Ở đây được một năm, Ngài tiến
cử Thầy Quảng Tăng thay thế đảm nhiệm ngôi vị trụ trì
chùa Hưng Lâm, còn Ngài sang Mỹ Tho, đến chùa Linh Phong Cổ
tự nhập chúng tu học, đạo tràng này do Hòa thượng Kiểu
Lợi làm Pháp sư.
Năm
1944 (Giáp Thân), trường gia giáo Linh Phong mãn duyên. Ngài trở
về Bến Tre nhập chúng tại trường Phật học Phước Duyên.
Trường này do Hòa thượng Hiển Pháp mở ra và Hòa thượng
Pháp sư Kiểu Lợi đảm trách giảng dạy, ở trường này,
Ngài được bầu làm chánh Duy Na.
Năm
1945 (Ất Dậu), ông bà Hồ Văn Vàng ở xã Phú Nhơn, Bến Tre
phát tâm cất một ngôi chùa, kiến trúc cây lá đơn sơn, lấy
tên Vạn Phước. Mến mộ đạo hạnh của Ngài, hai ông bà
đến chùa Phước Duyên thỉnh Ngài về trụ trì và Ngài đã
về đây hóa duyên cho đến lúc cuối đời.
Với
đạo đức cao dầy, Phật học uyên thâm, tánh tình hòa nhã,
hoan hỷ nên Ngài được bổn đạo gần xa cảm mến quy ngưỡng
rất đông, ngôi chùa Vạn Phước ngày càng hưng thịnh. Năm
1959 (Kỷ Hợi), Ngài cho tiến hành tái thiết lại ngôi Tam
bảo Vạn Phước, mái ngói nền gạch cao rộng, khang trang.
Mặc
dù công việc trụ trì có đa đoan nhưng Ngài vẫn đáp lại
lòng kỳ vọng của Tăng Ni tỉnh nhà, đảm nhiệm nhiều chức
vụ quan trọng của Giáo hội giao phó.
Từ
năm 1947 đến năm 1955, Ngài giữ chức vụ Chánh Thư ký Giáo
hội Tăng Già tỉnh Mỹ Tho.
Năm
1966 đến năm 1971, Ngài lại đảm nhiệm chức vụ Chánh Thư
ký Giáo hội Lục Hòa Tăng tỉnh Mỹ Tho.
Năm
Nhâm Tý 1972, Ngài được Tăng Ni suy cử làm Tăng trưởng Giáo
hội Lục Hòa Tăng tỉnh Mỹ Tho.
Ngoài
những công tác thuần túy Phật sự ra, Ngài còn là người
có tinh thần yêu nước rất cao. Trong thời kỳ kháng chiến
chống Pháp, rồi đến chống Mỹ, Ngài luôn âm thầm trợ
giúp cách mạng, bằng nhiều hình thức, hoặc tiếp tế lương
thực, thuốc men, hoặc bảo mật cơ sở, hoặc che dấu cán
bộ v.v... Nhiều cán bộ cao cấp như Hòa thượng Thiện Hào,
Hòa thượng Minh Nguyệt, Hòa thượng Pháp Tràng, trong thời
kỳ hoạt động kháng chiến từng được Ngài che dấu, giúp
đỡ.
Ngoài
ra, còn biết bao thanh niên trong lứa tuổi quân dịch được
Ngài cưu mang dưới lớp áo tu sĩ, trợ giúp để họ khỏi
phải cầm súng chống lại đồng bào, Ngài làm mọi việc
với tinh thần vô ngã, từ bi của nhà Phật, nên việc nào
Ngài cũng tận tâm tận lực.
Năm
1980 (Canh Thân), Ngài về Tổ đình Hưng Long (Nhị Quý, Mỹ
Tho) dự lễ Kỵ Tổ. Lúc trở về, gần đến chùa Linh Phước
(Mỹ Tho), Ngài gặp tai nạn xe, nên phải nằm viện một thời
gian. Từ đây, sức khỏe Ngài suy yếu dần.
Trong
giai đoạn đang nằm dưỡng bệnh ở chùa, Ngài thấy ngôi
Giảng đường hư mục quá nhiều, không đành lòng, Ngài sai
đệ tử kêu thợ tới tu sửa. Môn nhơn đệ tử thương Ngài
nên xin hoãn lại, chờ khi bệnh Ngài thuyên giảm hãy thi công,
nhưng Ngài không bằng lòng, nói rằng : “Thân này đau mạnh,
đi ở, là chuyện thường. Chùa hư thì phải sửa, sửa rồi
ai ở cũng được”.
Thế
là Ngài cương quyết thực hiện ý nguyện của mình. Ngày
16 tháng 10 khởi công, được gần một tháng, ngôi Giảng đường
sắp sửa hoàn thành, thì Ngài thâu thần thị tịch, vào lúc
8 giờ 30 phút sáng ngày 11 tháng 11 năm Canh Thân (tức ngày
17 tháng 12 năm 1980), Ngài thọ thế 65 năm, giới lạp trải
qua 32 mùa Hạ.