HÒA
THƯỢNG
THÍCH
MINH TRỰC
(1895
– 1976)
Hòa
thượng Thích Minh Trực, pháp húy Chơn Như, thế danh là Võ
Văn Thạnh, tự Trương Văn Học, sinh năm Ất Mùi (1895), tại
xã Phước Vân, tổng Lộc Thành Thượng, tỉnh Chợ Lớn (cũ),
nay là xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Thân
phụ Ngài là cụ ông Trương Văn Bền, thân mẫu là cụ bà
Võ Thị Mai, pháp danh Bất Phàm tự Diệu Giác. Cả hai đều
là cư sĩ Phật tử thuần thành. Ngài là con thứ 4 trong gia
đình.
Ngài
xuất thân trong một gia đình thuộc thành phần trung nông,
thân phụ mất sớm, cụ bà lo nuôi dưỡng ăn học. Thuở nhỏ,
Ngài được thân mẫu dẫn đến quy y Tam bảo ở chùa Mỹ
Phước, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Sau
đó, Ngài tiếp tục lên Sài Gòn học Nho học và Tây học
cho đến khi đỗ đạt. Do có túc duyên với Phật pháp nhiều
đời, nên ngoài kiến thức thế gian, Ngài còn thường xuyên
gần gũi các bậc cao Tăng thạc đức, các giới học giả
trí thức, để tham cứu kinh sách Tam giáo, và quyết định
chọn cho mình một con đường để đi, đó là Phật giáo.
Năm
29 tuổi (1924), Ngài xuất gia tại chùa Tam Tông (Sài Gòn) rồi
cùng các cụ Minh Chánh, Minh Giáo, Minh Truyền, Minh Đàm, Minh
Thiện sáng lập Tam Tông Miếu – Minh Lý Thánh Hội tại quận
Ba, Sài Gòn. Trong thời gian tu học ở đây, Ngài thiết lập
thiền thất chuyên nghiên cứu Phật học và cùng với các
vị tôn túc danh Tăng : Tổ Khánh Hòa, Huệ Quang, Khánh Anh,
Đạt Thanh; Hòa thượng Từ Quang, Thành Đạo, Thiện Hòa, Thiện
Hoa... học hỏi, trao đổi giáo lý Phật đà. Ngoài ra, Ngài
quan hệ và tham gia các phong trào chấn hưng Phật giáo : Hội
Nam Kỳ Nghiên cứu Phật Học, Giáo hội Lục Hòa Tăng, Giáo
hội Tăng Già Việt Nam, Hội Phật học Nam Việt để mở rộng
sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh sau này.
Năm
1948 (nhằm ngày 5 tháng 1 năm Mậu Tý), sau hơn 20 năm tu học
tinh tấn, thân cận các bậc Thiện tri thức, Ngài khai sơn
Tổ đình Phật Bửu Thiền Tịnh Đạo Tràng. Ngài hiển dương
pháp môn Thiền Tịnh song tu và được lưu truyền rộng rãi
cho đến ngày nay.
Theo
Ngài, muốn nhiếp hóa đồ chúng dễ dàng, phải kết hợp
cả Thiền lẫn Tịnh, cả đốn lẫn tiệm. Về thiền, Ngài
căn cứ vào yếu chỉ kinh tạng Đại thừa đốn ngộ : Duy
Ma Cật, Viên Giác, Pháp Bảo Đàn... Về Tịnh độ, Ngài y
cứ vào kinh Di Đà Đại Bổn, Thiền Môn Nhựt Tụng mà Ngài
diễn dịch rất chu đáo để hướng dẫn đồ chúng trên đường
tu học.
Vốn
có căn bản về Nho học lẫn Tây học, lại thêm sự thấu
đạt nghĩa lý sâu xa của Phật pháp, nên từ năm 1948 đến
cuối đời, Ngài đã để hết tâm trí miệt mài dịch kinh,
viết sách để truyền đạt tư tưởng giáo lý của Phật
Tổ, vừa phát huy được truyền thống bản sắc văn hóa dân
tộc, tụng kinh tiếng Việt. Những bộ kinh được Ngài dịch
ra Việt ngữ như : Nhựt Tụng, Pháp Bảo Đàn, Duy Ma Cật,
Đại Viên Giác, Đốn Ngộ Nhập Đạo, Di Đà, Hồng Danh, Phổ
Môn, Bát Nhã Tâm Kinh và sáng tác Lễ Bổn, Tham Thiền Bửu
Sám, Thiền Tịnh Chơn Ngôn, Xuân Di Lặc và một số các thi
kệ, liễn đối ở các tự viện.
Năm
1952, Ngài là một trong quý Hòa thượng lãnh đạo các Giáo
phái Phật giáo Nam Bộ cung nghinh ngọc xá lợi Phật Tổ do
Phái đoàn Phật giáo Tích Lan thỉnh theo, trên đường đi Hội
nghị Phật giáo ở Nhật Bản quá cảnh Sài Gòn, cũng trong
năm này, Hội Phật học Định Tường suy tôn Ngài làm Pháp
chủ của Hội.
Năm
1953, Ngài đã cùng Hòa thượng Đạt Thanh và phái đoàn sang
hóa đạo tại nước Cao Miên.
Năm
1955, Ngài đã tham gia cùng phái đoàn miền Nam Việt Nam dự
Hội nghị Bang Đung tại Nam Dương (Indonesia) và tại Nhật
Bản. Ngài từng là Pháp sư trong các lễ hội do Giáo hội
bạn tổ chức.
Năm
1963, Ngài là Cố vấn Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo,
lãnh đạo giáo phái Thiền Tịnh Đạo Tràng đứng chung với
11 tổ chức Phật giáo miền Nam, đấu tranh chống chính sách
kỳ thị, đàn áp Phật giáo của chế độ Ngô Đình Diệm.
Ngày 22.8.1963, Ngài và toàn bộ Tăng chúng Tổ đình đã bị
chính quyền Diệm bắt giam tại Rạch Cát cùng chung với các
vị lãnh đạo Ủy ban Liên phái.
Năm
1964, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành
lập, Ngài là thành viên của Hội đồng Trưởng lão Viện
Tăng Thống. Sau đó, vì có quan điểm khác nhau, nên một số
tổ chức Phật giáo đã đứng ra ngoài Giáo hội Phật giáo
Việt Nam Thống nhất để thành lập Tổng Giáo hội Phật
giáo Việt Nam. Ngài được chư tôn Hòa thượng lãnh đạo
Tổng Giáo hội suy tôn lên ngôi vị Pháp chủ.
Trên
bước đường hành đạo, Ngài trải bao gian khổ qua các bước
quan san hẻo lánh khó khăn, Ngài đã cùng môn đệ xây dựng
thêm nhiều cảnh chùa thuộc Tổ đình Phật Bửu Thiền Tịnh
Đạo Tràng, cùng mang tên Phật Bửu tại Quảng Ngãi, Bình
Định, Châu Đốc, Mỹ Tho, Bến Tre, Long An, Bà Rịa Vũng Tàu
và các quận huyện ở thành phố như : Quận 4, Bình Thạnh,
Hóc Môn. Và năm 1974, thêm một ngôi chùa Phật Bửu tại Long
Hải được ra đời.
Năm
1975, vì tuổi già sức yếu và thọ bệnh, Ngài cho xây tháp
tại Phật Bửu Tự Hóc Môn và di huấn cho đệ tử lo việc
tu học, điều hành môn phái.
Thế
sự vô thường, có sinh có diệt. Ngày mồng 5 tháng 5 năm Bính
Thìn (2.6.1976), Ngài đã an nhiên thị tịch vào lúc 20 giờ
sau thời kinh Di Đà. Ngài trụ thế 82 tuổi, hưởng 52 tuổi
đạo. Sau khi trà tỳ, xá lợi Ngài được tôn trí vào các
bảo tháp ở Tổ đình Phật Bửu ở quận 3, Phật Bửu Tự
Hóc Môn và Phật Bửu Tự Phước Vân.
Suốt
cuộc đời tu hành, Ngài đã có nhiều cống hiến cho công
cuộc hoằng hóa lợi sanh. Ngài đã kết hợp “Thiền Tịnh
song tu” và xây dựng nhiều chùa cảnh làm nơi truyền bá
đạo pháp cũng như phiên dịch kinh tạng giúp cho hậu thế
thuận đường tu học. Ngài xứng đáng là một Trưởng lão
tôn túc của Phật giáo miền Nam và toàn thể Phật giáo Việt
Nam.