HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TÔN THẮNG
(1879
– 1976)
Hòa
thượng Thích Tôn Thắng, pháp danh Trừng Kệ, pháp tự Như
Nhu, Ngài thế danh là Dương Văn Minh, sinh ngày 29 tháng 2 năm
Kỷ Sửu – 1889 (năm Thành Thái nguyên niên) tại làng Hà My,
tổng Bích La, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thân phụ
là ông Dương Văn Hiếu và thân mẫu là bà Nguyễn Thị Tiện.
Ngài
sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho học và
Phật học chuẩn mực và được nuôi dạy theo khuôn mẫu,
nên buổi thiếu thời Ngài đã sớm được tiếp cận với
kinh sách thánh hiền.
Năm
Giáp Thìn (1904), lúc lên 16 tuổi, Ngài được phép mẫu thân
đến cầu xuất gia với Hòa thượng Tâm Truyền, Tăng Cang
chùa Báo Quốc và được Hòa thượng ban pháp danh là Trừng
Kệ. Đó là năm đáng nhớ nhất cuộc đời Ngài : năm nhiều
tỉnh miền Bắc bị mất mùa, đói kém và hình ảnh cao đẹp
nữa về vị vua mà Ngài ngưỡng mộ lại phải thân hành ra
tận miền Bắc để thăm hỏi, cứu trợ, ghi thêm một nét
đẹp nữa cho Ngài.
Năm
Bính Ngọ (1906), Ngài được Bổn sư cho thọ Sa di giới và
được ban pháp tự là Như Nhu. Ngay sau đó, vua Thành Thái truyền
lệnh cho bộ Lễ sung Ngài vào ngạch Tăng chùa Diệu Đế (Gia
Hội – Huế).
Năm
Canh Tuất (1910), khi hay tin và qua thời gian chiêm nghiệm về
sự kiện vua Thành Thái bị khâm sứ Trung Kỳ Lévêque bắt
buộc thoái vị, nhường ngôi cho vua Duy Tân (1907). Ngài được
phép Bổn sư cho tạm rời xa kinh thành Huế, dạt vào Quảng
Nam, Khánh Hòa và Bình Thuận để cầu tham học. Ngài trụ
lại thị xã Đà Nẵng, lập thảo am trú xứ tại làng Thạch
Châu tu tập.
Năm
Quý Sửu (1913), Ngài trở về Huế thọ tang Hòa thượng Bổn
sư Tâm Truyền đã viên tịch. Tăng môn đại chúng cung thỉnh
Hòa thượng Tâm Khoan kế vị trụ trì chùa Báo Quốc và Ngài
được Hòa thượng cử làm tri sự.
Năm
Mậu Ngọ (1918), sau một chuỗi sự kiện làm chạnh lòng người
dân đế đô, nổi cộm nhất là sự kiện cuộc khởi nghĩa
của vua Duy Tân thất bại (1916), Ngài lại một lần nữa trở
vào Đà Nẵng. Nơi đây Ngài khai sơn chùa Phổ Thiên tại làng
Bình Thuận (nay là chùa Phổ Đà, cơ sở của trường Cơ bản
Phật học Quảng Nam – Đà Nẵng).
Năm
Quý Hợi (1923), năm Khải Định thứ 7. Lúc này Ngài 34 tuổi
mới thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn chùa Phước Quang,
tỉnh Quảng Ngãi do Hòa thượng Hoằng Tịnh làm Đàn đầu
truyền giới.
Năm
Giáp Tý (1924), Ngài đến cầu pháp với Hòa thượng Phước
Trí chùa Tam Thai, núi Ngũ Hành, Quảng Nam được Hòa thượng
phú pháp với Pháp hiệu là Tôn Thắng.
Năm
Mậu Thìn (1928), Ngài được cung thỉnh làm Trị sự tại Đại
giới đàn chùa Từ Vân, Đà Nẵng do Hòa thượng Quảng Hương
làm Đàn đầu.
Năm
Kỷ Tỵ (1929), Ngài được mời làm Dẫn Lễ Sư tại Đại
giới đàn chùa Phước Lâm – Hội An, do Hòa thượng Phước
Trí làm Đàn đầu.
Năm
Canh Ngọ (1930), Ngài đảm đương trụ trì chùa Phổ Thiên,
đồng thời được Giáo hội Tăng Già Đà Nẵng cung thỉnh
giữ chức vụ Kiểm Tăng.
Năm
Nhâm Thân (1932), hưởng ứng phong trào chấn hưng Phật giáo
nổi lên ở khắp ba miền đất nước, Ngài đứng ra sáng
lập Đà Thành Phật học Hội và cung thỉnh Hòa thượng Bích
Liên làm Hội trưởng. Trụ sở đặt tại chùa Phổ Thiên
và cho xuất bản tạp chí Tam Bảo làm cơ quan ngôn luận chính
thức của Hội trong việc hoằng dương chánh pháp.
Năm
Ất Hợi (1935), Ngài vào khai sơn chùa Tịnh Độ tại thị
xã Tam Kỳ, nay là chi nhánh trường Cơ bản Phật Học của
tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng.
Năm
Bính Tý (1936), để phát triển việc hoằng hóa Ni giới, cũng
tại làng Bình Thuận – Đà Nẵng, Ngài lại khai sơn chùa
Diệu Pháp để làm Phật Học Ni Viện.
Năm
Mậu Dần (1938), Ngài được cung thỉnh vào ngôi Tôn Chứng
tại Đại giới đàn chùa Tịnh Quang, làng Ái Tử – Quảng
Trị, do Hòa thượng Phước Huệ làm Đàn đầu.
Năm
Kỷ Mẹo (1939), tại Đại giới đàn chùa Liên Trì, Khánh Hòa,
Ngài được mời làm Yết Ma A-Xà-Lê, giới đàn cũng do Hòa
thượng Phước Huệ làm Đàn đầu.
Năm
Tân Tỵ (1941), Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu tại Đại
giới đàn chùa Bình Quang Ni Tự tại tỉnh Bình Thuận.
Năm
Nhâm Ngọ (1942), việc hóa đạo khắp nơi đã khởi sắc do
sự đóng góp tích cực của Ngài trong phong trào chấn hưng
Phật giáo, nhưng Ngài cũng không quên nghĩ về quê hương bản
sở. Do đó, sau bao nhiêu năm trời xa cách Ngài về lại Quảng
Trị, việc đầu tiên là Ngài thành lập ngay Phật học đường
tại chùa Hội Quán và làm Giám đốc trong 3 năm.
Năm
Ất Dậu (1945) do biến chuyển lớn của thời cuộc, Ngài lại
trở vào Đà Nẵng tiến hành trùng tu các chùa Phổ Thiên,
Tịnh Độ và chùa Hội Quán.
Năm
Bính Tuất (1946) ý thức về tiền đồ Phật giáo mai sau, Ngài
quyết định hiến cúng chùa Phổ Thiên (sau là chùa Phổ Đà)
cho Giáo hội để mở Phật học viện có tầm vóc quy mô –
chi nhánh Phật học viện Trung phần ở Trung Trung bộ.
Năm
Giáp Thìn (1964), Ngài được tiến cử làm Chứng minh Đạo
sư Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thị xã Đà Nẵng.
Năm
Bính Ngọ (1966), Ngài được tiến cử vào Hội đồng Trưởng
lão Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
Năm
Canh Tuất (1970), Ngài làm Chánh chủ Đàn tại Đại giới đàn
Vĩnh Gia, được tổ chức tại chùa Phổ Đà – Đà Nẵng
(chùa Phổ Thiên trước đây). Từ đó đến năm Bính Thìn
(1976) Ngài được thỉnh làm thành viên Hội đồng Giáo phẩm
Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
Ngày
16 tháng 3 năm Bính Thìn (1976), Ngài an nhiên thị tịch, trụ
thế 87 năm, giới lạp 53 tuổi Hạ, môn đồ pháp quyến lập
Bảo tháp Ngài tại chùa Tịnh Độ – thị xã Tam Kỳ, tỉnh
Quảng Nam – Đà Nẵng.