HÒA
THƯỢNG
THÍCH
QUẢNG ÂN
(1891
– 1974)
Hòa
thượng Thích Quảng Ân, pháp húy Nguyên Đồ, pháp hiệu Quảng
Ân ( ), nối đời thứ 44 dòng Lâm Tế Chánh Tông, thế danh
Lê Văn Bảy, sinh năm 1891 (Tân Mão) tại xã Mỹ Phước, quận
Bến Tranh, tỉnh Định Tường (nay là Tiền Giang).
Thân
phụ Ngài là cụ Lê Văn Chung, một nhà nho uyên thâm, tinh tường
cả Nho, Y, Bốc, Số; Thân mẫu Ngài là bà Nguyễn Thị Thiệt,
một người nhân từ mộ đạo. Ngài là con út trong một gia
đình đông con. Thuở nhỏ Ngài được phụ thân cho theo Nho
học, vốn thông minh, hiếu học lại được cha rèn cặp nên
mới 12 tuổi, Ngài đã làu thông Tứ thư, Ngũ kinh.
Năm
13 tuổi (1903), nhân một lần chứng kiến cái chết của người
chị dâu, Ngài cứ băn khoăn, thao thức: “Tại sao người
ta lại phải chết”. Hình ảnh người chị nằm bất động,
chung quanh là những tiếng than khóc não nề, cùng câu hỏi
ấy cứ dấy lên ám ảnh tâm trí Ngài. May sao về dự tang
lễ có thầy Thiện Trung, một người anh của Ngài đã xuất
gia ở chùa Khánh Quới. Ngài đem ý nghĩ của mình ra thưa hỏi,
thầy Thiện Trung giảng giải lý sanh tử vô thường của kiếp
người cho Ngài rõ. Sau khi nhận thức được rằng thế gian
chỉ là huyễn mộng, kiếp người vốn dĩ khổ đau, muốn
thoát ra khỏi vòng luân hồi triền miên đó, chỉ có một
con đường là tu Phật.
Từ
đấy ý tưởng xuất gia nhen nhúm trong Ngài. Sau bao đêm nung
nấu, cuối cùng Ngài đem tâm nguyện của mình thưa cùng thân
mẫu. Biết được ý con, bà không muốn rời xa người con
út. Thế nhưng chí nguyện đã quyết ngay trong năm này (1903),
dưới sự hướng dẫn, giới thiệu của thầy Thiện Trung,
Ngài đã đến chùa Khánh Quới (Cai Lậy), cầu xin xuất gia
với Hòa thượng Phước Chí (húy Tâm Ba – còn gọi là Tổ
Tâm Bờ). Được Hòa thượng thu nhận làm đệ tử và cho
pháp danh là Thiện Chiên. Thế là từ đây Ngài theo hầu hạ
và học tập đạo lý với Tổ Tâm Bờ, Hòa thượng thấy
Ngài tuổi trẻ mà ý chí vững vàng, đạo hạnh siêng năng,
mẫn tiệp nên hết lòng thương yêu dạy bảo.
Năm
1904 (Giáp Thìn), tháng 3, một trận cuồng phong thổi đến,
cây cối nghiêng ngả, nhà cửa sập đổ, tróc nóc, duy chùa
vẫn được bình an. Đêm rằm tháng Tư, Hòa thượng khai trường
Hương, dẫn đến ngày hưu Hạ, lại mở trường Kỳ, lập
đàn truyền giới. Thấy Ngài mới xuất gia nhưng học hành
kiêm ưu, chí nguyện vững vàng nên Hòa thượng cho Ngài thọ
giới Sa di.
Đàn
truyền giới vừa xong, kế đến tháng 10, Hòa thượng Tâm
Bờ họp chúng, cử thầy Trí Ân lên thay làm trụ trì, rồi
Hòa thượng giã từ môn nhơn, lên núi Trà Sư ẩn tu.
Năm
1905 (Ất Tỵ), Hòa thượng Phước Chí viên tịch trên núi
Trà Sư. Hay tin, Ngài vô cùng buồn khổ, kế mẹ già lại tha
thiết yêu cầu Ngài trở về nhà để mẹ con sớm hôm được
đoàn tụ, thương mẹ nên Ngài không nỡ từ chối. Thế nhưng
về nhà được ít lâu, Ngài lâm trọng bệnh thuốc thang bao
nhiêu cũng vô hiệu, cả nhà đang cơn tuyệt vọng, thì Ngài
nằm mộng thấy Hòa thượng Tổ bảo phải trở vào chùa tu
niệm. Biết túc duyên của con với Tam bảo sâu dày nên mẹ
Ngài phát nguyện cho Ngài tiếp tục tòng Sư tu Phật. từ đó
không cần thuốc thang mà bệnh cứ thuyên giảm dần, hết
bệnh Ngài trở về chùa, được thầy trụ trì Trí Ân giao
cho chức vụ Thư ký.
Tháng
7 năm 1907 (Đinh Mùi), Hòa thượng Thanh Ẩn, trụ trì chùa Sắc
tứ Từ Ân (Chợ Lớn), khai gia giáo dạy kinh luật Đại thừa.
Ngài xin phép thầy trụ trì và đại chúng để lên tham dự
khóa học. Ngài đã nhập chúng tu học ở đây cho đến khi
mãn khóa.
Tháng
4 năm 1909 (Kỷ Dậu), Ngài cùng sư huynh là Hòa thượng Thiện
Tòng đến an cư kiết Hạ tại chùa Sùng Đức (Chợ Lớn).
Sau lại đến chùa Linh Nguyên của Hòa thượng Chơn Hương
nghe kinh Kim Cang Chư Gia. Trong suốt sáu năm trời viễn du tham
học (1909 – 1912), không một trường Hương một lớp gia giáo
nào mà Ngài vắng mặt. Vì vậy đạo hạnh Ngài mỗi lúc một
tinh nghiêm, Phật học ngày càng thêm sâu rộng.
Năm
1912 (Nhâm Tý), lúc bấy giờ Ngài đã được 22 tuổi, chú
Ngài là cụ Từ Hòa, cùng với các vị hương chức làng thỉnh
Ngài về trụ trì chùa Linh Phước (chùa Phật Đá) ở thôn
Bà Bèo. Đây là một ngôi chùa cổ có từ thời vua Hiển Tông
niên hiệu Cảnh Hưng (1772), do các mục đồng dựng lên. Trải
một thời gian không người trông coi nên chùa bị hoang phế.
Năm 1897, Hương chức làng thỉnh cụ Từ Hòa về ở để giữ
gìn, hương khói cho chùa và cụ Từ Hòa đã ở đây cho đến
lúc Ngài về đảm nhiệm chức vụ trụ trì.
Năm
1914 (Giáp Dần), Ngài thọ giới Tỳ kheo tại trường Kỳ chùa
Khánh Đức, kế sau được suy tôn làm Giáo Thọ. Năm 1915 (Ất
Mão), Ngài cho trùng tu lại ngôi chánh điện chùa Linh Phước.
Năm
1917 (Đinh Tỵ), Sở Trường Tiền cho xáng múc kinh Bà Bèo quá
gần vuông chùa, nên Ngài họp bổn đạo cho dời chùa đến
một khu đất hoang, cách nền chùa cũ khoảng 500m. Và một
ngôi chùa Phật Đá mới, bốn nóc cao rộng, khang trang được
dựng lên ở đây cho đến ngày nay.
Năm
1919 (Kỷ Mùi), Ngài tổ chức lễ Lạc thành chùa mới, thỉnh
chư tôn đức về tham dự rất đông. Sau khi chùa chiền an
ổn, Ngài bắt đầu việc hoằng hóa độ sinh, tiếp Tăng giáo
chúng. Lúc trường Hương này thỉnh giảng dạy, khi trường
Kỳ nọ thỉnh chứng minh, tiếng tăm Ngài mỗi lúc một vang
xa. Lại thêm truyền tích vị Phật Đá ở chùa cảm đức
hạnh Ngài nên mỗi lúc lại linh thiêng hơn, nhiều người
đau bệnh nan y, hiểm nghèo về đây lễ bái cầu nguyện đều
được chữa lành, nên bổn đạo gần xa quy ngưỡng chùa này
ngày càng thêm đông.
Năm
1927 (Đinh Mão), Ngài trùng tu chánh điện chùa Linh Phước cao
rộng hơn, để có thể dung chứa đủ thập phương thiện
tín về lễ bái. Năm 1929, Sư huynh là Hòa thượng Thiện Tòng,
trụ trì chùa Trường Thạnh (Sài Gòn) về chùa Long Phước
(Cai Lậy) lập Chúc thọ Giới đàn, thỉnh Hòa thượng Sắc
tứ Long Hoa (Gò Vấp) làm Hòa thượng Đàn Đầu và thỉnh
Ngài làm Giáo Thọ.
Năm
1939, vị trưởng tử của Ngài là Hoằng Thông húy Quảng Châu,
trụ trì chùa Sắc tứ Long Hội mở trường Kỳ cung thỉnh
Ngài làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới.
Khi
phong trào chấn hưng Phật giáo nổi lên khắp nơi, hưởng
ứng lời kêu gọi của Hòa thượng Khánh Hòa, năm 1931, Ngài
tham gia làm hội viên sáng lập Hội Lưỡng Xuyên Phật Học.
Năm
1947, chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ, làng mạc tan hoang, chùa
chiền bị thiêu rụi, Ngài phải cùng các đệ tử vào rừng
ẩn náu, rồi đến tạm trú chùa Linh Quang của Đại đức
Quảng Cơ. Tuy gian nan, vất vả, Ngài vẫn mỉm cười : “Tăng
vô nhứt vật”.
Năm
1949 (Kỷ Sửu), Ngài cùng các đệ tử lại phải tản cư ra
nương náu nơi Linh Ẩn Viện ở Nhị Bình lần thứ nhứt.
Năm
1952, Giáo hội Lục Hòa Tăng được thành lập, đại chúng
thỉnh Ngài làm Tăng trưởng, từ chối nhiều lần không được,
Ngài đành phải hứa khả. Trong thời gian phục vụ vì công
việc quá nhiều nên mắt Ngài mờ dần, mãi đến năm 1960
mới sáng trở lại. Dầu vậy Ngài vẫn không xao lãng Phật
sự, vẫn đi chứng minh đó đây, giảng dạy gia giáo khắp
các đạo tràng.
Năm
1955, khi tiếng súng chiến tranh chấm dứt, Ngài cùng đồ chúng
trở về trùng tu lại ngôi chùa Linh Phước. Chùa chiền vừa
được sửa sang xong chưa bao lâu thì chiến tranh nữa lại
nổi lên, khói lửa phủ mờ thôn xóm.
Năm
1961, Ngài cùng đồ chúng lại phải rời bỏ mái chùa thân
yêu, tản cư ra nương náu nơi am Linh Ẩn – Nhị Bình lần
thứ hai. Năm 1964, Ngài lại tản cư lưu trú nhiều chùa ở
Mỹ Tho suốt hai năm.
Năm
1966, ông bà Phán Bổn, một bổn đạo tín tâm, thấy Ngài
tuổi đã cao mà còn vất vả, lận đận nơi ăn chốn ở nên
đã hiến cúng cho Ngài một miếng đất ở Mỹ Tho. Ngài cùng
đồ chúng về đây dựng lên ngôi Linh Phước thứ hai, và
trụ ở đây cho đến viên tịch.
Năm
1967, Ngài viết bảng Thanh quy trao quyền trụ trì cho đệ tử
là Đại Đức Nhuận Quang để Ngài chuyên tâm tu trì và thuyết
pháp độ sanh.
Năm
1974 (Giáp Dần), thấy sức khỏe mình đã suy yếu lắm, Ngài
họp các môn nhơn đệ tử dặn dò, phó chúc những việc phải
làm sau khi Ngài viên tịch. Ngày mùng 5 tháng 10 năm 1974, Ngài
thong thả đọc bài kệ :
Ngàn
thu an giấc khỏe thân ôi !
Cái
nợ trầm luân đã phủi rồi
Thẳng
tới Niết bàn theo cõi Phật
Thầy
trò từ giã kiếp này thôi.
Sau
đó Ngài an nhiên thị tịch, hưởng thọ 84 tuổi, 60 Hạ lạp.
Môn nhơn đệ tử xây tháp an táng nhục thân Ngài trong khuôn
viên trước chùa Linh Phước.