HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THIỆN THUẬN
(1900
– 1973)
Hòa
thượng Thích Thiện Thuận, pháp húy Nhật Dần, thế danh là
Lê Văn Thuận, sinh năm Canh Tý (1900) tại Cần Giuộc, tỉnh
Chợ Lớn (nay là tỉnh Long An). Thân phụ là cụ ông Lê Văn
Xúy và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Biền, thuộc thành phần
trung nông và là một gia đình có truyền thống tu Phật nhiều
đời. Nhờ vậy ngay từ tấm bé, Ngài đã sớm thấm nhuần
nếp sống đạo đức và tỏ ra thương yêu loài vật một
cách đặc biệt, được song thân quý mến và làng xóm thương
yêu.
Thời
gian này đất Gia Định tuy vẫn còn râm ran đó đây các phong
trào đấu tranh nổi dậy tự phát, nhưng thực dân pháp đã
ổn định về mọi sự áp đặt của họ. Phật giáo vẫn
còn bị kềm chế đó đây, cuộc sống tu hành của Tăng sĩ
gặp nhiều khó khăn. Trong tình cảnh đó, hiếm có được
ngôi chùa nào còn sót lại ngay trung tâm Gia Định và vùng
Bến Nghé. Vì vậy cung cách giữ gìn truyền thống và tu tập
của gia đình Ngài trong hoàn cảnh này thật đáng quý.
Năm
Canh Tuất (1910) Ngài thường xuyên cùng song thân đi hành hương
lễ Phật các chùa quanh vùng. Theo như mong ước của Ngài,
đó còn là dịp để song thân tìm được nơi tin tưởng hầu
có thể gởi gắm Ngài tu học sau này. Tiếc rằng do ảnh hưởng
chung của thời thế, hiện trạng Phật giáo chịu chung vận
mệnh đất nước bị suy thoái, nên mục đích cao đẹp là
chơn giải thoát chỉ còn là hình tướng lễ bái mà thôi.
Năm
Giáp Dần (1914) trên chuyến xe ngựa đầu xuân, vó ngựa gõ
đều trên mặt lộ hướng về phía Đông Bắc, trong những
bạn hàng buôn chuyến sớm, có song thân và Ngài đang thực
hiện hoài bão cao cả hằng ấp ủ bấy lâu : Hòa thượng
Hồng Hưng-Thạnh Đạo ra đến cổng Tam Quan chùa Giác Lâm
hoan hỷ đón đợi Ngài cùng song thân như để báo rằng hoài
bão của gia đình và bản thân Ngài giờ đây đã thành hiện
thực.
Ở
Gia Định thời ấy chỉ có ba ngôi chùa tạm được gọi là
lớn và có quy trình tu học, đào tạo Tăng Ni được khắp
nơi biết đến là chùa Giác Lâm, Giác Hải và Long Thạnh.
Từ Cần Giuộc xa xôi gia đình Ngài không quản thời gian tìm
đến và quyết định cho Ngài xuất gia tu học tại đây. Rằm
tháng Tư âm lịch năm ấy, khi vừa đến tuổi 15, Ngài chính
thức được Hòa thượng Hồng Hưng - Thạnh Đạo cho làm lễ
xuất gia và đặt pháp danh là Nhật Dần, hiệu Thiện Thuận,
thuộc đời thứ 41 dòng Đạo Bổn Nguyên, Tông Lâm Tế.
Năm
Canh Thân (1920) Ngài được Bổn sư cho thọ Cụ túc giới tại
trường Kỳ chùa Phú Long – Phú Nhuận, do Hòa thượng Quảng
Phát làm Đàn đầu truyền giới. Sau khi thọ giới, Ngài được
cử giữ chức hương đăng chùa Giác Lâm, Ngài chuyên cần
chấp tác mọi công việc của chùa, dù cho đó là công việc
của Sa di, vì vậy Ngài đã tạo ra mối gắn bó tu học gần
gũi trong Tăng chúng. Không lâu sau, nhận thấy sở học của
Ngài luôn phát tấn, cần được nâng cao để có thể đảm
đương các Phật sự quan trọng mai sau, nên Bổn sư đã gởi
Ngài đi tham học nhiều nơi; trong đó đáng kể nhất là thời
gian Ngài được tu học với Hòa thượng Thanh Ấn, húy Như
Bằng-Từ Hòa ở chùa Từ Ân (Phú Lâm). Ngài đã cầu pháp
với Hòa thượng, được ban pháp hiệu là Từ Hiền-Chơn Dần.
Năm
Kỷ Mão (1939) Ngài trở về Giác Lâm và giữ trách nhiệm điển
tọa. Thời gian này Hòa thượng Bổn sư đã già yếu, Ngài
luôn cận kề chăm sóc và thực hiện những đạo lệnh quan
trọng nhằm củng cố và phát triển Tăng đoàn nơi Giác Lâm.
Năm
Kỷ Sửu (1949) Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Ngài tuân thủ
di chúc, được đại chúng suy tôn kế thế trụ trì chùa Giác
Lâm. Với bản tính điềm đạm, ít nói, nhu hòa, đã giúp
Ngài thực hiện trọng trách, được lòng tất cả Tăng chúng
và Phật tử gần xa.
Trụ
trì ngôi đại già lam này, Ngài đạt nhiều công hạnh tốt,
nhưng cũng là thời gian ít có vị trụ trì nào như Ngài, đã
chứng kiến một thực trạng mang tính lịch sử : Tăng chúng
ngày một giảm đi, không phải vì suy vi đạo nghiệp hay trở
lực chướng duyên nào, mà họ đã nghe theo tiếng gọi của
Hội Phật giáo Cứu quốc, tạm xếp Tăng bào, lên đường
kháng chiến cứu nước cứu dân. Chùa Giác Lâm còn là nơi
nuôi giấu cán bộ và là nơi hội họp của nhiều cấp ủy
một thời.
Năm
Nhâm Thìn (1952), tình hình có vẻ lắng dịu, các vị ra đi
ấy đã có nhiều vị trở về, tiếp tục hợp sức với Ngài
chuyên lo Phật sự. Từ đây, Ngài có một quyết định mang
tính lịch sử : tham gia vào tổ chức Giáo hội Lục Hòa Tăng,
cùng Hòa thượng Hồng Từ hiến cúng 4 công đất của chùa
Giác Viên cho Giáo hội Lục Hòa Tăng làm nơi bồi dưỡng,
đào tạo Tăng tài, lấy tên là “Trường Lục Hòa”. Cũng
nơi đây, thành lập cơ sở in ấn “Phật học tạp chí”,
cơ quan ngôn luận chính thức của Giáo hội Lục Hòa Tăng,
nhưng tạp chí ra mắt được vài số thì đình bản vì không
đủ nhân lực tài lực.
Năm
Quý Tỵ (1953) Ngài hiến cúng mẫu đất trước khuôn viên
chùa Giác Lâm, dùng làm nơi xây tháp để tôn trí ngọc Xá
lợi Phật do Đại đức Narada từ Tích Lan mang sang tặng, vào
ngày 24.6.1953, và trồng một cây Bồ đề được chiết cành
từ nơi đất Phật.
Năm
Đinh Dậu (1957), Ngài được tấn phong Hòa thượng nhân Đại
giới đàn tại chùa Trường Thạnh, lễ Khai Bằng Giáo Phẩm
được tổ chức trọng thể tại trường Lục Hòa - chùa Giác
Viên.
Năm
Nhâm Dần (1962) Hòa thượng Thích Huệ Thành (chùa Long Thiền
– Biên Hòa) được suy tôn lãnh đạo Giáo hội Phật giáo
Lục Hòa Tăng. Từ đây, Ngài vẫn tích cực ủng hộ Giáo
hội, nhưng do đa đoan bổn tự nên Ngài âm thầm với cuộc
sống chuyên tu nhiều hơn. Giáo hội Phật giáo Lục Hòa Tăng
cũng vì bảo vệ tôn chỉ, mục đích Lục Hòa, nên đứng
ngoài các đấu tranh về chính trị, xã hội.
Năm
Canh Tuất (1970) Giáo hội Phật giáo Lục Hòa Tăng và Hội
Lục Hòa Phật tử được hợp nhất, đổi tên thành Giáo
hội Phật giáo Cổ Truyền Việt Nam, Ngài được suy cử vào
thành viên Hội đồng Viện Tăng Thống.
Năm
Nhâm Tý (1972) Ngài được đề cử chức vụ Viện trưởng
Viện Hoằng Đạo và Hòa thượng Thích Huệ Thành giữ ngôi
vị Tăng Thống.
Năm
Quý Sửu (1973) Ngài an nhiên thị tịch vào ngày 26 tháng 3 âm
lịch, thọ 73 tuổi đời, giới lạp 53 mùa hạ. Môn đồ pháp
quyến đã xây tháp thờ Ngài trong khuôn viên chùa Giác Lâm.