HÒA
THƯỢNG
THÍCH
ĐẠT THANH
(1853
– 1973)
Hòa
thượng Thích Đạt Thanh, pháp hiệu là Như Bửu, tục danh
là Võ Minh Thông, sau đổi là Võ Bửu Đạt, sinh năm Quý Sửu
(1853), triều Tự Đức năm thứ 6, tại làng Tân Thới Tây,
tổng Bình Thạnh Hạ, huyện Bình Long, phủ Tân Bình, tỉnh
Gia Định, nay là xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, Tp.
Hồ Chí Minh.
Ngài
sinh trong một gia đình trung lưu Nho học, kính tin Tam bảo.
Thân sinh của Ngài là cụ ông Võ Văn Kiển, pháp danh Thiện
Tim, thân mẫu là cụ bà Hà Thị Tông, pháp danh Diệu Nho. Ngài
có 7 anh em trai. Người anh cả là ông Võ Văn Bường, một
liệt sĩ cách mạng, bị thực dân Pháp sát hại trong cuộc
kháng chiến năm 1947 tại quê nhà. Các em của Ngài có 2 người
xuất gia. Một vị làm trụ trì chùa Phước Tường ở Thủ
Đức, một vị làm trụ trì chùa Long Thạnh ở Bà Hom.
Ngày
chào đời của Ngài có một đàn bồ câu không biết từ đâu
bay đến đậu chật kín cả nóc nhà nhảy nhót, gù gáy hoan
hỷ. Thân phụ cho đó là điềm lành, thiết bàn thờ giữa
sân cúng tạ trời đất và cầu cho Ngài được mọi sự an
lạc. Kể từ đó song thân Ngài phát nguyện trường trai, thực
hiện hạnh bố thí, thiết lập bàn thờ Phật trong nhà, hằng
đêm tụng kinh trì chú.
Vốn
là một nhà nho uyên thâm, thân phụ Ngài hết lòng dạy bảo.
Sẵn có tư chất thông minh lại chăm chỉ học hành, nên chẳng
bao lâu Ngài học hết và thông hiểu nghĩa lý các sách Minh
Tâm, Tứ Thư, Ngũ Kinh. . . . vùng Bà Điểm là lò dạy võ,
nên Ngài cũng được theo học võ, tài nghệ được xếp hàng
đầu trong số thanh niên biết võ của liên xã. Tuy văn võ
vào hàng ưu tú như thế, nhưng Ngài luôn khiêm nhường không
kiêu căng ngạo mạn. Hàng ngày ngoài việc học hành, giúp
đỡ cha mẹ các việc trong nhà, Ngài thường xuyên chăm lo
nhang đèn nơi bàn thờ Phật.
Năm
lên 12 tuổi, Ngài theo song thân đi lễ Phật ở chùa Linh Nguyên
làng Đức Hòa, hôm đó, nhân vía Địa Tạng Bồ tát, chùa
tổ chức lễ cầu siêu Bạt tiến rất long trọng. Đàn tràng
uy nghi Tăng Ni, Phật tử các nơi quy về dự lễ rất đông.
Ngài và song thân ở lại suốt ba ngày đêm, tham dự các khóa
lễ. Khi ra về, Ngài luôn mang theo hình ảnh trang nghiêm, thanh
tịnh giải thoát của chốn thiền môn những ngày qua. Một
tháng sau, Ngài xin phép song thân cho được xuất gia tại chùa
Linh Nguyên như nguyện ước trong thâm tâm.
Điều
mong ước ấy không mấy khó khăn, vì song thân Ngài cũng đã
có ý hướng để Ngài xuất gia cho hợp với điềm lành khi
Ngài chào đời và phù hợp bản tính nhân từ, đôn hậu bẩm
sinh của Ngài. Sau đó, Ngài được song thân đưa tới chùa
Linh Nguyên, cầu xin Tổ Minh Phương – Chơn Hương thâu nhận
làm đệ tử.
Trải
hai năm chuyên cần tu học, Ngài đã thông suốt các nghi thức
thiền môn. Tổ Minh Phương thấy ở Ngài có túc căn tài trí,
không thể chỉ học đến như thế là đủ, nên dẫn Ngài
đến chùa Giác Lâm là ngôi cổ tự lâu đời để học thêm
kinh điển dưới sự giáo huấn của Tổ Minh Vi – Mật Hạnh.
Trải qua 6 năm học tập tại đây, Ngài được xếp vào diện
hạng ưu, thì vừa lúc Bổn sư của Ngài là Tổ Minh Phương
viên tịch (1877).
Sau
khi về thọ tang Bổn sư, Ngài trở lại chùa Giác Lâm tu học.
Vào thời điểm đó, khoa nghi ứng phú đạo tràng rất thịnh
hành ở đây. Tăng chúng phải tham gia các “đám cúng” mất
nhiều thì giờ, không còn rảnh rang để nghiên cứu kinh điển.
Vì vậy, Ngài xin qua chùa Giác Viên để tu học đúng theo sở
nguyện. Tại đây, Ngài được sự tận tâm dạy bảo của
các vị giáo thọ như Tổ Hoằng Ân-Minh Khiêm, Như Nhãn-Từ
Phong... Sẵn tư chất thông minh, làu thông nho học, lại gặp
được thầy giỏi, nên Ngài sớm trở thành một danh Tăng
đương thời.
Năm
1879, Ngài được tứ chúng Tổ đình Linh Nguyên công cử kế
vị trụ trì, thay tổ Minh Phương – Chơn Hương đã viên tịch.
Sau
khi Ngài xuất gia, song thân Ngài cải tạo ngôi nhà từ đường
thành một ngôi Tam bảo, mở rộng cửa cho Phật tử quanh vùng
đến tụng kinh lễ Phật. Đến năm 1919, thân phụ Ngài qua
đời, Ngài giao nhiệm vụ trụ trì chùa Linh Nguyên lại cho
Ngài Như Đạt – Thiên Cang (huynh đệ đồng sư với Ngài)
rồi trở về lo việc cư tang báo hiếu, đồng thời trùng
tu lại ngôi chùa do song thân lập ra. Năm 1921, việc trùng tu
xây dựng ngôi chùa đã xong, Ngài tổ chức lễ khánh thành,
có đông đảo tín đồ và chư Sơn đến dự. Trong buổi lễ
trang trọng này, ngôi chùa được Tổ Như Nhãn – Từ Phong
đặt tên hiệu là Long Quang Tự. Đặc biệt trong dịp lễ
khánh thành và đặt tên chùa, nông dân trong vùng đào ao, phát
hiện một pho tượng Phật bằng đá không rõ có từ niên
đại nào. Họ thỉnh đến chùa giao cho Ngài thờ phụng, Ngài
tôn trí pho tượng nơi bàn Tổ lưu giữ cho đến nay.
Vào
đầu thập niên 1920 tổ chức Thiên Địa Hội, một tổ chức
yêu nước của những người dân yêu nước ở Nam kỳ hoạt
động khắp nơi. Mạnh nhất là vùng Đức Hòa – Hóc Môn
– Chợ Lớn. Trong số những người tham gia tổ chức này
có nhiều Tăng sĩ như : Sư Lồng (Huỳnh Văn Lồng); Sư Ký
Đời; Sư Ký Nhàn; Sư Ký Hạp ở Đức Hòa; Sư Phát Ấn; Thiện
Tòng; Thành Đạo v.v... ở vùng Chợ Lớn – Gia Định và trong
đó có Ngài (gia nhập năm 1926). Sau một thời gian hoạt động,
tổ chức Thiên Địa Hội bị thực dân Pháp đàn áp, nhiều
hội viên bị bắt và đày Côn Đảo, Ngài cũng chịu chung
số phận.
Gần
4 năm trời, Ngài sống cuộc sống lao tù khổ sai trên hải
đảo, nhưng vẫn giữ phong cách của vị tu hành, ăn cơm với
muối, bận áo nâu sồng. Năm cuối cùng Ngài được đi lên
rừng đốn củi, đốt than. Tại nơi làm việc, Ngài kết thân
với một số bạn tù, tổ chức kết bè vượt ngục. Sau thời
gian 2 tháng, bè đã kết xong. Ngài cùng một số bạn tù gồm
7 người lên bè ra khơi trong đêm tối.
Trong
ngày đầu trời tốt, thuận gió, bè lướt nhanh. Khi trông
thấy ánh sáng mặt trời xuất hiện ở phương Đông thì bè
cũng đã rời xa Côn Đảo. Nhưng nỗi vui mừng chưa qua đi,
sự lo âu đã cận kề. Một trận cuồng phong từ phương Đông
thổi tới. Chiếc bè gập ghềnh, chao đảo trên những ngọn
sóng kinh hồn. Chiếc bè bị đứt làm đôi, phía kia có 4 người
ngồi trên đó, chỉ qua vài đợt sóng, mảng bè đã bị xé
nát, 4 người lần lần mất dần trong sóng nước.
Đương
lúc thập tử nhất sinh, trên nửa bè kia có Ngài và hai người
nữa tưởng chỉ còn chờ đến phiên mình làm mồi cho cá.
Hai người kia nhắm mắt chờ chết. Riêng Ngài vẫn ngồi xếp
bằng, hai tay níu chặt thân bè để sóng khỏi hắt xuống
nước, miệng trì niệm tâm kinh. Giây phút trôi qua, gió lặng
sóng yên, trời quang mây tạnh, chiếc bè lặng lẽ trôi đi
theo làn gió nhẹ.
Ba
ngày hai đêm, bè bồng bềnh trên mặt biển, chung quanh là
trời nước mênh mông, chẳng thấy đâu là bờ. Ba người
ngồi trên bè chỉ còn biết phó thác cho duyên nghiệp. Bỗng
từ xa một chiếc thuyền buôn xuất hiện, căng buồm rẽ sóng
lướt về phía chiếc bè.
Sự
vui mừng xen lẫn lo âu, mừng vui vì sắp được cứu sống
nếu gặp người tốt bụng. Lo âu nếu gặp quân lính hay kẻ
tham danh vọng bắt đem nạp cho nhà chức trách. Nhưng dù sao
thì cũng phải lên thuyền. Những người làm trên thuyền bu
quanh ba người hỏi chuyện. Bỗng từ sau buồng lái một người
xăm xăm bước tới, mọi người dang ra. Người ấy nhìn chăm
chú vào Ngài rồi cất tiếng hỏi :
- Có
phải ông là nhà sư chăng ?
-
Thưa phải. Ngài đáp.
Nghe
đáp thế, người kia chắp tay xá, rồi mời Ngài vào trong
khoang hàn huyên tâm sự. Người ấy chính là một thương gia
tên là Lê Trung Cận, quê Quảng Ngãi vào lập nghiệp ở Rạch
Giá. Ông Cận là một Phật tử thuần thành, bàn thờ Phật
tại nhà ông không khác gì một “tiểu già lam”. Ông hết
lòng cung phụng vào bảo bọc cho Ngài được an tâm trong thời
gian lưu trú trong nhà ông. Đối lại, Ngài cũng đem trình độ
hiểu biết sâu rộng về Phật pháp ra truyền đạt cho ông.
Từ đó ông coi Ngài như bậc sư phụ và tìm cách hợp thức
hóa cái tên giả Võ Bửu Đạt thay cho tên thật Võ Minh Thông
để che mắt nhà cầm quyền Pháp.
Không
dám trở về chùa cũ và quê xưa, với tấm căn cước mang
tên Võ Bửu Đạt, suốt gần mười năm trời, Ngài đi khắp
các tỉnh miền Tây Nam bộ – tới đâu Ngài cũng đem giáo
pháp của đức Như Lai ra truyền dạy cho Phật tử, và có
lúc Ngài cũng phải sử dụng môn Khoa Nghi ứng phú đạo tràng
để làm phương tiện hoằng hóa chúng sinh và thu phục nhân
tâm. Trên bước đường vân du, có một thời gian Ngài dừng
chân tá túc ở chùa Châu Long ở Châu Đốc. Ngôi chùa này
do Ngài Như Hiếu – Thuần Hạnh sáng lập. Nơi đây chúng
Tăng biết Ngài thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ đồng tông phái,
nên Ngài được tiếp đón như hàng tôn túc.
Năm
1949, cái án tù vượt ngục không còn ngăn cản sự tự do
hành đạo của Ngài nữa, Ngài mới chính thức trở lại Sài
Gòn, nhưng chưa an trụ một nơi nào, khi thì ở chùa Trường
Thạnh, chùa Tịnh Độ, chùa Giác Hải, khi thì ở chùa Giác
Viên, Giác Lâm, Bình Hòa, Chưởng Thánh, Long Phước, Sùng Đức
v.v... Đến cuối năm đó, mến mộ tài đức đạo hạnh của
Ngài, thầy Trí Hữu (tức Đội Hữu) thỉnh Ngài về trụ
trì chùa Giác Ngộ tại ngã sáu Vườn Lài.
Qua
năm sau, 1950 Ngài chính thức mở trường Kỳ tại chùa Giác
Ngộ do Ngài làm Đường đầu Hòa thượng. Năm 1951, Giáo hội
Tăng Già Nam Việt được thành lập, trụ sở đặt tại chùa
Ấn Quang, đường Sư Vạn Hạnh, Ngài được suy tôn ngôi vị
Pháp chủ. Từ đó, giới Tăng già cũng như Cư sĩ tôn kính
Ngài là một trong các bậc cao Tăng của miền Nam. Khắp các
chùa trong lục tỉnh mỗi khi có thiết đại lễ đều thỉnh
Ngài đến chứng minh.
Sau
thời gian ba năm phục vụ cho Giáo hội, nhận thấy tuổi già
sức yếu, nên tại Đại hội Giáo hội họp ngày 08-3-1953,
Ngài xin cáo lui, trao ngôi vị Pháp chủ cho Hòa thượng Huệ
Quang. Ngài trở về chùa Long Quang ở Xuân Thới Thượng an
dưỡng, nhưng vẫn là bậc Chứng minh Đạo sư của Giáo hội
Tăng Già Việt Nam, của Giáo hội Lục Hòa Tăng Việt Nam.
Từ
khi Ngài bị bắt tù đày Côn Đảo, ngôi chùa Long Quang trong
tình trạng hoang phế, có lúc thực dân Pháp dùng làm nơi đóng
đồn bót để đàn áp lực lượng kháng chiến. Sau hiệp định
Genève 1954, người Pháp rút khỏi miền Nam, họ mới chịu
trả chùa lại cho nguyên chủ. Sau khi thôi giữ ngôi vị Pháp
chủ Giáo hội Tăng Già Nam Việt, lưu về đây an dưỡng, Ngài
bắt tay vào công việc trùng tu, đến năm 1956 mới hoàn thành.
Cảnh chùa lại tấp nập, đông vui hơn ngày xưa.
Ngài
về đây an dưỡng chưa được bao lâu thì cuộc kháng chiến
của nhân dân miền Nam lại bùng nổ. Vùng Bà Điểm, Hóc Môn
là căn cứ cách mạng, bom đạn của địch trút xuống ngày
càng ác liệt. Lại một lần nữa Ngài phải xa chùa, lánh
cư nơi khác. Năm 1956, có Phật tử tên là Phạm Thị Phương,
chủ nhà in Văn Hóa ở Sài Gòn, phát tâm xây dựng một ngôi
chùa tại Bình Trị, cạnh Phú Lâm lấy hiệu là Long Nguyên,
thỉnh Ngài về an trụ. Ngài luôn được các đệ tử trụ
trì các nơi cung thỉnh về chùa mình để phụng dưỡng cho
đến hết năm 1972.
Đầu
năm 1973, sức khỏe của Ngài thực sự suy kém, mặc dầu tinh
thần vẫn sáng suốt, Ngài được các đệ tử đưa từ chùa
Chưởng Thánh về chùa Long Quang ở Bà Điểm. Sáng mồng 1
Tết Quý Sửu, Ngài được dìu lên chánh điện lễ Phật,
lễ Tổ. Sau đó, Ngài bảo kê chiếc đơn cạnh bàn thờ Tổ
cho Ngài nằm. Suốt 11 ngày, Ngài chỉ uống nước. Đến sáng
ngày 11, Ngài bảo nấu nước các hoa thơm để tắm rửa và
bảo Sa di Thiện Hạnh đi báo cho các đệ tử của Ngài từ
các nơi như Biên Hòa, Thủ Đức, Tây Ninh, Long An, Định Tường
và Sài Gòn về gặp Ngài trong ngày 12 Âm lịch.
Đúng
12 giờ, mọi người đã tề tựu đông đủ, Ngài bảo đỡ
dậy ngồi tựa lưng vào bàn thờ Tổ, dùng pháp âm ngõ lời
trước đông đảo môn nhơn về luật vô thường, không có
gì phải bi thống. Đoạn Ngài đọc một bài kệ 8 câu cho
đệ tử ghi chép (rất tiếc lâu ngày bài kệ này đã bị
thất lạc). Sau đó, Ngài bảo tất cả mọi người lên chánh
điện tọa thiền nhập từ bi quán để chư Phật tiếp dẫn
giác linh Ngài.
Đến
15 giờ 30, Ngài bảo đánh trống Bát Nhã đến khi nào Ngài
bảo thôi mới thôi. Đến 16 giờ, Ngài an nhiên thị tịch
trên tay vẫn nắm chặt xâu chuỗi Thập Bát. Ngài thọ được
120 tuổi đời, 99 Hạ lạp. Môn nhơn pháp quyến, môn đồ
tứ chúng vô cùng thương tiếc, nhưng nhớ lời Ngài đã di
huấn, nên đều không dám để rơi nước mắt. Kim quan của
Ngài được quàn tại chùa Long Quang 5 ngày. Sau đó, đi đến
chùa Trường Thạnh lưu 5 ngày. Đến ngày 22 tháng Giêng Âm
lịch lại quy hoàn chùa Long Quang làm lễ nhập tháp.
Sinh
thời, Ngài sáng tác, phiên dịch rất nhiều kinh sách, phần
lớn bị thất lạc hoặc mối mọt làm hư hao. Nay chỉ còn
lại một bộ Lục Vân Tiên tân truyện viết bằng chữ Nôm,
một bộ Du Đà Đại Khoa, một bộ Vu Lan Thích Nghĩa. Tất
cả đều lưu trữ tại chùa Long Quang, Bà Điểm.
Cuộc
đời của Hòa thượng là một tấm gương trí dũng của người
con Phật, làm nên công đức cho sự nghiệp thống nhất Phật
giáo nước nhà trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền
Nam. Hành trình hoằng pháp lợi sanh của Ngài suốt trên một
thế kỷ quả là ít có ai sánh được. Ngài đã để lại
sự kính ngưỡng muôn thuở cho hàng hậu bối tôn vinh học
tập.