HÒA
THƯỢNG
THÍCH
CHÍ TỊNH
(1913
– 1972)
Hòa
thượng Thích Chí Tịnh, pháp danh Hồng Căn, thế danh Nguyễn
Văn Đại sinh năm 1913 (Quý Sửu) tại xã Kim Sơn, huyện Châu
Thành, tỉnh Tiền Giang.
Ngài
xuất thân trong một gia đình trung nông, có truyền thống tín
ngưỡng Phật giáo lâu đời. Thân phụ là cụ ông Nguyễn
Văn An, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Điều, vốn là những
Phật tử thuần thành chất phác.
Thuở
nhỏ, Ngài thường hay đau ốm, khó nuôi nên năm lên 7 tuổi
(1920 Canh Thân), thân mẫu Ngài đưa lên chùa Phước Long, xã
Phú Phong huyện Châu Thành, Tiền Giang cho xuất gia với Hòa
thượng Như Bửu, hiệu Thanh Châu được Bổn sư đặt pháp
danh là Hồng Căn. Ngài ở đây hầu thầy, học đạo suốt
13 năm liền. Bản tánh thông minh, lại thêm cần mẫn siêng
năng, nên chẳng mấy chốc, thiền môn kinh luật, phạm tắc
oai nghi, Ngài đều làu thông. Năm 1930 (Canh Ngọ), thấy Ngài
hiếu học, Hòa thượng Bổn sư cho Ngài học thêm chữ quốc
ngữ và xuống chùa Phước Long, xã Kim Sơn học chữ nho và
kinh bộ với Hòa thượng Chí Nghĩa.
Năm
1932 (Nhâm Thân), lúc này Ngài vừa tròn 20 tuổi, nhận thấy
thiện duyên đã đủ, đạo hạnh đã thuần, Hòa thượng Bổn
sư cho Ngài đăng đàn thọ Tỳ kheo-Bồ tát giới tại trường
Kỳ chùa Minh Đức, Phú Túc, Bến Tre và cho pháp hiệu là Chí
Tịnh.
Năm
1935 (Ất Hợi), được phép của Hòa thượng Bổn sư, Ngài
đến chùa Vạn An, Sa Đéc, tham học giáo lý và thiền môn
nghi lễ với Hòa thượng Chánh Thành. Suốt bảy năm Ngài chuyên
cần tu học, Phật điển mỗi lúc một uyên thâm, khoa nghi
ứng phú mỗi lúc thêm tinh tường.
Năm
1942 (Nhâm Ngọ), giã từ đạo tràng Vạn An, Ngài đến chùa
Tuyên Linh, Bến Tre tham học với Hòa thượng Khánh Hòa. Sau
đó được Hòa thượng đưa vào nhập học tại Phật học
đường Lưỡng Xuyên.
Trong
thời gian tu học ở đây, Ngài được quý Phật tử cảm mến
đạo hạnh, cung thỉnh về trụ trì chùa Lạc Thiện ở xã
Tân Thạch, Bến Tre. Ở đây Ngài dốc lòng chăm lo Phật sự,
trùng tu Tam bảo đến nỗi Bổn sư lâm bệnh nặng Ngài vẫn
không hay để về phụng dưỡng.
Năm
1951 (Tân Mão), Hòa thượng Bổn sư viên tịch, di chúc lại
cho Ngài kế tục đảm nhiệm ngôi vị trụ trì. Phụng theo
di chúc của Thầy, Ngài giao chùa Lạc Thiện lại cho đệ tử
lớn là thầy Quảng Mai và về trông coi Tổ đình Phước Long.
Những
năm 1951 – 1954, Ngài được mời đi họp ở Đồng Tháp Mười,
và cùng Hòa thượng Pháp Tràng tham gia phong trào Phật giáo
Cứu quốc, lo vận động đồng bào Phật tử đóng góp tài
lực vào cuộc kháng chiến chống Pháp.
Năm
1954, hòa bình lập lại, Ngài trở về chùa Phước Long, trùng
tu Tam bảo, hướng dẫn thiện tín tu hành. Dù Phật sự đa
đoan, năm nào đến mùa an cư, Ngài cũng tham dự kiết Hạ,
nhập chúng tu học, khi ở gần, lúc ở xa, khi ở Sài Gòn,
lúc ở Trà Vinh, Sóc Trăng, Sa Đéc v.v...
Năm
1955 (Ất Mùi) Giáo hội Lục Hòa Tăng được thành lập. Ở
Mỹ Tho, Hòa thượng Quảng Ân được bầu làm Tăng trưởng,
Hòa thượng Pháp Tràng làm Tăng giám. Ngài được bầu làm
Ủy viên Hoằng pháp. Hòa thượng Nguyên Thanh làm thư ký, Hòa
thượng Trí Long làm Ủy viên tài chánh. Hội sở đặt tại
chùa Vĩnh Tràng.
Năm
1963 (Quý Mão), chiến tranh lan tràn khốc liệt, ở thôn quê
giặc càn quét khắp nơi, ở thành phố thì bị pháp nạn,
chùa chiền Tăng Ni bị chính quyền họ Ngô đàn áp, bắt bớ.
Ngài thấy không thể hoạt động Phật sự ở chùa Phước
Long được nữa nên đã tản cư xuống chùa Chơn Minh (Mỹ
Tho). Ở đây, Ngài hợp tác với Hòa thượng trụ trì, Hòa
thượng Hiển Pháp mở lớp dạy giáo lý cho chư Tăng quy tụ
về tu học rất đông.
Năm
1966 (Bính Ngọ), Ngài được Phật tử cung thỉnh về trụ
trì chùa Phật Ân (thị xã Mỹ Tho). Chùa là cơ sở của Hội
Phật học tỉnh Định Tường, nên về đây Ngài hợp tác
với Hội mở trường đào tạo Tăng tài, cung thỉnh Hòa thượng
Thiền Định cùng quý giảng sư ở Sài Gòn giảng dạy. Hơn
sáu năm trụ trì chùa Phật Ân, Ngài đã góp phần đào tạo
được một thế hệ Tăng trẻ có tài đức, kế thừa sự
nghiệp hoằng pháp ở Tiền Giang.
Năm
1972 (Nhâm Tý), Ngài tham dự khóa an cư kiết Hạ tổ chức
ở chùa Sùng Đức, Phú Lâm - Chợ Lớn và được đại chúng
bầu làm Chánh chúng trường Hạ. Giữa khóa Hạ, Ngài lâm
bệnh nặng nhưng nhất quyết không bỏ Hạ, bệnh tình mỗi
lúc một thêm nặng nên đại chúng phải đưa Ngài vào bệnh
viện Sùng Chính để điều trị. Tưởng bệnh sơ sài rồi
sẽ qua, nào ngờ, ngày mùng 6 tháng 6 năm Nhâm Tý, vào lúc
3 giờ sáng Ngài an nhiên thị tịch, hưởng dương 59 tuổi,
tròn 40 Hạ lạp.
Tang
lễ Ngài được Ban chức sự trường Hạ tổ chức vô cùng
trọng thể trong suốt bốn ngày, Hội đồng Viện Tăng thống
do Hòa thượng Huệ Thành và Hội đồng Viện Hóa Đạo do
Hòa thượng Bửu Ý dẫn đoàn giáo phẩm về trường Hạ làm
lễ truy điệu và truy tặng Ngài một “Anh dũng Phật chương”.
Sau đó, Tăng Ni, Phật tử trường Hạ cung tiễn Kim quan Ngài
lên xe tang đưa về chùa Chơn Minh (Mỹ Tho). Sau đó đưa về
chùa Phước Điền, xã Long Bình Điền – Chợ Gạo, nhập
Bảo tháp.
59
năm trụ thế, 40 năm tu học phụng đạo, thời gian tuy ngắn
ngủi nhưng đức tánh khắc kỷ, lợi tha, tinh thần vì đạo
quên thân của Ngài luôn là một tấm gương sáng cho môn đồ
hậu tấn noi theo.