HÒA
THƯỢNG
THÍCH
PHÁP LONG
(1901
– 1971)
Hòa
thượng Thích Pháp Long, pháp danh Quảng Hương, pháp húy Trừng
Hinh, pháp tự Pháp Long, pháp hiệu Từ Hội, nối pháp dòng
Tế Thượng Thiên Thai Thiền Giáo Tông, đời thứ 42. Ngài
thế danh là Trần Minh Châu, sinh năm 1901 (Tân Sửu) tại làng
Mỹ Hạnh Trung, quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho. Thân phụ là cụ
Trần Văn Trương; thân mẫu là bà Nguyễn Thị Mùi, gia đình
Ngài có tất cả là 10 anh em, và Ngài là người con thứ 5
trong gia đình.
Được
sinh trưởng trong một gia đình đạo đức, tin kính Tam bảo,
nên Ngài đã được huân dưỡng tánh đức hiền lương từ
tuổi ấu thơ. Năm lên 8 tuổi (1909) một thảm họa lớn đến
với Ngài: từ ngày 25 tháng 6, đến mùng 10 tháng 7 trong năm
ấy, lần lượt thân mẫu và các người anh em đều từ bỏ
cõi đời sau một cơn bệnh dịch oan nghiệt. Sự việc xảy
ra quá đột ngột, và hết sức thương tâm này, đã khiến
cho Ngài sớm nhận ra đời người là vô thường huyễn hóa.
Từ
đó, Ngài sống với cha và ông nội. Năm lên 10 tuổi (1911),
ông nội Ngài lại vĩnh biệt dương trần, còn lại hai cha
con nương nhau mà sống. Chán ngán cảnh đời đau khổ và mong
manh, thoạt có rồi không. Để rồi từ nhân duyên với Phật
pháp nhiều kiếp trước phát khởi, Ngài mạnh dạn xin phép
phụ thân được xuất gia đầu Phật và đã được chấp
thuận.
Ngày
mồng 8 tháng 4 năm 1914, Ngài được thân phụ dẫn đến xin
xuất gia tại Tổ đình Khánh Quới xã Tân Bình, quận Cai Lậy,
tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang hiện nay) được Bổn sư cho pháp
danh là Quảng Hương. Từ đó trở đi Ngài bắt đầu cuộc
sống tu hành của người cầu đạo giải thoát.
Ngày
19 tháng 2 năm Ất Mão (1915), thân phụ của Ngài lại qua đời.
Trước nỗi đau đó, khi càng buồn thì Ngài càng tinh tấn
tu niệm để tưởng nhớ và siêu tiến cho hương linh cố phụ.
Năm
1920 trải qua 4 năm phụng Sư học đạo, nỗ lực tu trì. Hòa
thượng Bổn sư của Ngài viên tịch. Từ đây một mình một
bóng, Ngài bước đi trên con đường tự độ, hóa tha.
Năm
1923, Ngài được 22 tuổi, nhận thấy muốn thoát khỏi sông
mê về bến Giác, cần phải có thầy Tổ làm nơi nương tựa
dẫn đường. Cho nên, Ngài tìm đến Tổ Phi Lai ở núi Tượng,
Châu Đốc cầu học. Ngài ở nơi đây học đạo một năm,
và được Tổ ban cho pháp hiệu là Hồng Hinh, pháp tự Từ
Hội.
Năm
1924, Ngài trở về Tổ đình Khánh Quới, phát nguyện nhập
thất trì tụng một tạng kinh Di Đà, 3000 biến Kinh Kim Cương
và thọ nhất thực (một bữa Ngọ) trong 6 tháng. Sau khi ra
thất, Ngài lên núi Điện Bà Tây Ninh tham dự trường Kỳ
khóa Luật thọ Tỳ kheo giới. Sau đó vào hang đá tu tập thiền
quán, quyết minh tâm kiến tánh. Nhưng tịnh chừng nào vọng
nhiều chừng ấy, Ngài bèn đọc sách Quy Nguyên Trực Chỉ,
đọc đến Sơn Cư Bách Vịnh có đoạn viết :
“Sơn
cư phong cảnh tự thiên nhiên
Đại
đạo chỉ triêu tại mục tiền
Bất
thức tổ tông thân mật chỉ
Đồ
lao niệm Phật dữ tham thiền”.
Nghĩa
là :
Phong
cảnh núi rừng vốn tự nhiên
Đạo
chẳng đâu xa, ở hiện tiền
Nếu
không Thầy, Tổ chơn truyền chỉ
Sợ
uổng công niệm Phật, tọa thiền !
Ngài
chợt tỉnh ngộ, nhận thấy do mình tự tu thiếu Tổ chơn
truyền, cần phải tầm Sư chỉ giáo. Ngài tìm đến Hòa thượng
Huệ Đăng ở chùa núi Thiên Thai, Long Điền – Bà Rịa xin
cầu yếu chỉ. Tổ Thiên Thai nhận thấy Ngài có tuệ căn
thông đạt, phước tướng trang nghiêm, có thể là rường
cột Phật pháp sau này, nên thâu nhận làm đệ tử, ban pháp
húy cho Ngài là Trừng Hinh; pháp hiệu là Pháp Long, với 4 câu
kệ rằng :
“Trừng
định tinh thần trí tuệ khai
Hinh
phong hương thủy tẩy trần ai
Pháp
hoa liễu ngộ vô sinh nhẫn
Long
đạt tông phong đại biện tài.”
Sau
khi nhận lãnh pháp ngữ thầy Tổ, Ngài nhất tâm chuyên trì
giới luật, trên cung kính dưới khiêm nhường, khắp nơi ngưỡng
mộ tài đức của Ngài theo học rất đông.
Năm
1927, Ngài được tiến cử chức Giáo thọ tại trường Kỳ
chùa Thanh Long – Biên Hòa, và sau đó được tấn phong ngôi
Yết Ma tại trường Kỳ chùa Khánh Quới – Cai Lậy.
Từ
năm 1928 đến 1945, theo bước chân vân du hóa độ, Ngài đã
tiếp độ rất nhiều đệ tử xuất gia và tại gia. Trong số
rất nhiều các đệ tử, có trưởng tử là Hòa thượng Thích
Bửu Huệ nguyên Phó viện trưởng viện Cao đẳng Phật học
Huệ Nghiêm, và rất nhiều các Ni sư, Thượng tọa, Đại đức
hiện đang trụ trì ở khắp nơi. Ngoài ra, Ngài còn chứng
minh, xây dựng, trụ trì nhiều chùa như : chùa Thiên Cơ (Trà
Ôn), chùa Tiên Châu (Vĩnh Long), chùa Bửu Long (Vũng Liêm –
Vĩnh Long), chùa Thiên Tôn (Bình Khê – Bình Định).
Năm
1945 đến 1954, Ngài cùng với Hòa thượng Thích Thiện Cảnh
tại Vĩnh Long hưởng ứng theo lời kêu gọi của ông Trần
Văn Giàu, chủ tịch Nam Bộ kháng chiến và cùng với quý Hòa
thượng Thích Minh Nguyệt, Thích Thiện Hào, Thích Pháp Tràng,
Thích Pháp Dõng v.v... tham gia trong phong trào Phật giáo Cứu
quốc Nam Bộ chống lại thực dân Pháp.
Sau
những năm góp sức gìn giữ quê hương, đạo pháp, Ngài nhận
thấy tuổi già sức yếu muốn lui về Tổ đình nhập thất
tịnh tu, giảng dạy Tăng Ni Phật tử, nhưng Phật sự bên
ngoài đã không cho phép. Các huynh đệ cử Ngài cùng với Hòa
thượng Pháp Chiếu đi thăm Tổ Huệ Đăng ở Bình Định,
đi đến nơi thì nghe tin Hòa thượng Bổn sư vừa viên tịch,
đau xót vô vàn, Ngài phải quay về báo tin cùng sơn môn tứ
chúng làm lễ truy điệu. Một thời gian sau, để báo đáp
thâm ân giáo huấn của Hòa thượng Bổn sư, Ngài lặn lội
ra tận Bình Định để xây tháp thờ Bổn sư và trùng tu lại
Tổ đình Thiên Tôn, tổ chức ổn định sinh hoạt tín ngưỡng
nơi đây.
Năm
Đinh Dậu 1957, Ngài được chư tôn đức thỉnh làm Hòa thượng
Đàn Đầu cho Đàn giới tại chùa Thiên Thai, Bà Rịa. Sau đó
Ngài trở về chùa Khánh Quới lập một tịnh thất để tĩnh
tu an dưỡng và tiếp tục hoằng dương đạo pháp.
Vào
năm 1961, do đấu tranh chống lại chính sách kỳ thị tôn giáo
của Ngô Đình Diệm, Ngài đã bị bắt và giam tại khám Chí
Hòa hơn hai năm. Dù bị tra tấn đánh đập, nhưng lúc nào
Ngài vẫn một dạ sắt son với chánh nghĩa, với lý tưởng
giác ngộ. Lúc ở trong tù, Ngài đã làm bài thơ :
“Đã
ở tù thì lắm cái dơ
Dơ
tâm, dơ tánh, thân càng dơ
Tu
tâm dưỡng tánh thân tù sạch
Đạo
chí bền lòng chẳng để dơ”.
Tháng
11 năm 1963, chính quyền nhà Ngô sụp đổ, Ngài được trả
tự do, liền đó Ngài trở về chùa tiếp tục hoạt động
Phật sự, giáo dục Tăng Ni, Phật tử. Năm 1966, Ban bảo tự
Tổ đình Thiên Thai Thiền Giáo Tông hiệp khai trường Hương
tại chùa Thiên Quang (Hóc Môn), Ngài được tiến cử làm Hòa
thượng Chủ Hương. Đến mãn Hạ, lập đàn truyền giới,
Ban chức sự cung thỉnh Ngài làm Tái thí Đàn đầu Hòa thượng.
Năm
1967, Ngài đến chùa Thiên Minh (Pháp Võ cũ, Chợ Cầu – Hóc
Môn) hiệp chúng cấm túc an cư tu học trong 3 tháng. Sau đó,
Ngài trụ lại đây cho đến ngày viên tịch.
Những
ngày cuối đời, tuy tuổi cao, sức khỏe suy dần, nhưng Ngài
vẫn tận tụy giảng dạy, lo cho tiền đồ Phật giáo sau này.
Ngày 13 tháng 9 năm Tân Hợi (tức ngày 31 tháng 10 năm 1971),
Ngài đã xả báo an tường, thu thần tịch diệt. Ngài trụ
thế 70 năm với 47 tuổi đạo.
Suốt
cuộc đời Ngài công hạnh vẹn toàn, hiến thân cho đạo pháp
và dân tộc không biết mỏi mệt. Ngài là một bậc mô phạm
xứng đáng cho hậu học quy ngưỡng.