HÒA
THƯỢNG
SUVANNA
DHAMMA TĂNG SANH
(1897
– 1970)
Hòa
thượng pháp danh Suvanna Dhamma (Thiện Pháp). Thế danh Tăng Sanh,
sinh năm 1897 nhằm ngày 6 tháng 4 năm Đinh Dậu, tại làng Gò
Đất, xã Bình An, huyện Châu Thành, tỉnh Rạch Giá.
Ngài
xuất thân từ một gia đình nông dân thuần hậu, thân phụ
là cụ ông Tăng Keo và thân mẫu là cụ bà Danh Thị Ni. Ngài
là người con út trong gia đình, trên Ngài còn có 7 anh chị.
Năm
1905, khi lên 8 tuổi, Ngài được song thân cho vào chùa Bom-Pênh-Chey-Svai,
xã Sóc Sơn, huyện Châu Thành học chữ Khmer với Ngài Danh
Huôi.
Năm
1909, sau hơn 4 năm học chữ, làm quen nếp sống giải thoát,
Ngài xin phép cha, mẹ được cắt ái từ thân, phát tâm xuất
gia lúc 12 tuổi và được thọ giới Sa di nơi Hòa thượng
Danh Huôi.
Đến
năm 19 tuổi, Ngài xin phép Thầy tế độ trở về chùa Gò
Đất ở quê của mình theo truyền thống để thăm xóm làng,
bái biệt cha mẹ, trước khi chính thức bước vào hàng Tăng
lữ.
Năm
1917, khi tròn đủ 20 tuổi, Ngài được thọ Cụ túc giới
tại Đại giới đàn chùa Suvanna Ransì Khlang Ong (Minh Lương,
Châu Thành, Kiên Giang). Do Hòa thượng Tăng Phêng làm Thầy
tế độ, Ngài Danh Tuôch làm Thầy Giáo thọ và Ngài Tăng Hiên
làm Thầy Yết ma. Sau khi thọ Cụ túc giới, Ngài trở về
chùa Gò Đất nhập Hạ hết hai năm để trau dồi đạo nghiệp.
Năm
1920, với mong mỏi tiến tu Tam học, Ngài xin phép thầy trụ
trì chùa Gò Đất, đến chùa Suvanna Ransì Khlang Ong, là nơi
Ngài thọ Đại giới, để được thân cận thầy Tổ phụng
Sư học đạo. Nơi đây, Ngài tiếp tục học chữ Khmer, học
giáo lý Vini (Vinaya); chẳng bao lâu, với sự nỗ lực, tinh
cần, Ngài đã khá tinh thông Phật pháp, thông thạo việc chép
kinh điển trên lá muôn. Tiếng tăm của sự tinh thông ấy
bắt đầu tỏa sáng; Hòa thượng Trưởng ban Phật giáo tỉnh
là Mé-Kon Gana đã mời Ngài cộng tác, giao trách nhiệm là
người chuyên chép kinh điển trên lá muôn, soạn thảo tài
liệu để học tập và truyền bá Phật pháp.
Năm
1924, thấy Ngài có chí khí hoằng dương đạo pháp, có đức
hạnh nhu hòa, khiêm tốn, Hòa thượng Mé-Kon, cùng thầy Tổ
đã tấn phong Ngài lên Thượng tọa, và giao phó trách nhiệm
làm Phó trụ trì chùa Suvanna Ransì Khlang Ong. Với trọng trách
mới, Ngài càng ra sức tu trì, giới luật nghiêm minh, và góp
phần sửa sang chùa cảnh, xây dựng thêm liêu, cốc, trai đường,
giảng đường làm nơi tu học cho Tăng chúng.
Một
thời gian sau, Hòa thượng Tăng Phêng viên tịch, với sự chuyên
tâm tu học và chăm phụng sự đạo pháp, phục vụ chúng sanh,
Ngài được Tăng chúng trong bổn tự, cùng đông đảo đồng
bào Phật tử tín nhiệm đề cử lên chức vị trụ trì kế
vị.
Năm
1942, nhờ uy tín và đạo hạnh nghiêm minh, Ngài được các
hàng giáo phẩm tấn phong lên Hòa thượng. Từ thời gian này
trở đi đến cuối đời, Ngài không ngừng làm việc phụng
sự đạo pháp. Trong những năm chiến tranh tàn phá, Ngài đã
cố công sửa sang lại chùa cảnh, mở rộng khuôn viên đất
chùa, để làm nơi cho Tăng chúng tu học và đồng bào Phật
tử lui tới sinh hoạt tín ngưỡng. Ngoài ra, với tâm niệm
“Tu phải Học”, Ngài cho xây cất trường lớp, mở lớp
học phổ cập dạy chữ, dạy kinh để thoát nạn mù chữ
cho các Sư và tín đồ dân chúng địa phương.
Năm
1962, qua những năm tích cực hoạt động phụng đạo, ích
đời, Ngài được tiến cử chức vị Phó Mé-Kon. Lúc này,
tuổi đời đã 65, tuy tuổi cao sức có yếu, nhưng Ngài vẫn
cố gắng phục vụ Phật pháp, kêu gọi hướng dẫn đồng
bào Phật tử tu học, đặc biệt hướng dẫn các vị trụ
trì tiến tu Phật học, song song trau dồi thêm kiến thức thế
học, để đủ khả năng truyền bá đạo Phật ở thế gian.
Trong thời gian này, Ngài đã kiến tạo một ngôi tháp lớn,
để an vị tôn thờ xá lợi của thầy Tổ là cố Hòa thượng
Tăng Phêng, và nhiều ngôi tháp nhỏ xung quanh chánh điện của
chùa. Sau buổi lễ khánh thành tháp xá lợi tôn sư, ý nguyện
đã thành tựu, do bệnh duyên tứ đại hoành hành, Ngài phải
nằm bệnh nhưng vẫn khuyên bảo, chỉ dạy các hàng đệ tử
xuất gia và tại gia chuyên tâm tu học, đoàn kết phụng sự
đạo pháp và dân tộc.
Đến
9 giờ sáng ngày 16 tháng 01 năm 1970, tức nhằm ngày 09 tháng
12 năm Kỷ Dậu, theo lẽ vô thường có sinh tức có diệt,
Ngài đã thu thần thị tịch, về cảnh vô dư thường lạc,
trụ thế 73 năm, hưởng 53 tuổi Hạ. Sau 15 ngày đêm tổ chức
lễ tang, Kim quan của Ngài được trà tỳ và nhập tháp xá
lợi ngay tại chùa, để Tăng chúng tín đồ được chiêm ngưỡng,
tôn thờ.
Hòa
thượng Suvanna Dhamma Tăng Sanh đã có công lớn trong việc trùng
hưng kinh sách, truyền bá đạo pháp và hướng dẫn mọi người
thực hành đúng theo phương châm tu hành “duy Tuệ thị nghiệp”,
lợi lạc chúng sanh. Ngài để lại sự kính ngưỡng cho Tăng
chúng, Phật tử Phật giáo Khmer ở miền Tây Nam bộ.