VỊ
PHÁP THIÊU THÂN
THÍCH
THIỆN LAI
(1896
– 1970)
Thầy
Thích Thiện Lai, thế danh Bùi Đình Tần, sinh năm Bính Thân
1896, tại tỉnh Nam Định - Bắc Việt.
Thầy
sinh trưởng trong một gia đình trung lưu, Phật Nho thuần hậu.
Nhờ vào nền tảng đạo đức gia đình, nên Ngài và anh em
luôn sống chan hòa với nhau, được tiếng thơm trong làng thôn.
Tuổi
thơ ấu và trưởng thành của Thầy đã đi qua trong hoàn cảnh
đất nước loạn ly, chiến tranh tàn phá. Thầy đã chứng
kiến hàng vạn đồng bào chết chóc, tang thương vì bom đạn,
vì đói khổ bởi giặc ngoại xâm giày xéo quê hương lãnh
thổ.
Để
tìm kiếm lý tưởng giải thoát cho mình và cho những đồng
bào, xóa bỏ hận thù, chung sống hòa bình với nhau,Thầy tìm
đến giáo lý Phật đà, lấy từ bi, bác ái làm nền tảng
tâm linh, hầu rửa sạch oán thù mê muội. Chính vì vậy, người
thanh niên trẻ ấy, đã đi khắp đó đây, dọc miền Nam đất
nước, chia sẻ niềm đau, cứu giúp người nghèo bằng tất
cả tâm huyết, vật chất gì mà mình có được của một
người cư sĩ Bồ Tát tại gia.
Năm
Giáp Ngọ (1954), khi đang ở miền Nam Việt Nam thì Hiệp định
đình chiến Genève ra đời, chia cắt đôi miền đất nước.
Hơn nửa cuộc đời chịu chung cộng nghiệp của dân tộc,
gắn bó với sự khổ đau mất mát của kiếp nhân sinh –
cũng là thời gian Thầy huân tập chủng tử Như Lai, vun trồng
thiện duyên, ngày càng thâm nhập vào chân lý Đại thừa.
Thế cho nên, dù tuổi cao, nhưng hoài bão xuất gia và ý chí
cứu thế độ sanh không bao giờ chùn bước; Thầy thành tâm
cầu thỉnh Hòa thượng Thích Hải Tràng, chùa Phổ Quang, Phú
Nhuận, tỉnh Gia Định tế độ xuất gia và được ban pháp
danh Thiện Lai. Năm ấy Thầy 59 tuổi (1955).
Từ
lời Phật dạy : “Thân người khó được, Phật pháp khó
gặp” khi trở thành một vị tu sĩ, thực hiện được hoài
bão cao đẹp của mình, Thầy luôn cố gắng tu học, kiên tâm
trì chí nên rất được Hòa thượng Bổn sư hài lòng; Tăng
chúng lấy đó làm gương sách tấn lẫn nhau.
Trong
lúc này, hoàn cảnh hai miền đất nước vẫn lâm vào cảnh
khói lửa chiến tranh càng sâu nặng bi thương; tình hình chính
trị xã hội ở miền Nam lại trở nên khủng hoảng trầm
trọng – Phật giáo theo đó đã bị ảnh hưởng rất lớn
và trở thành mục tiêu quan trọng của các thể chế ở miền
Nam lúc bấy giờ, nhằm tiêu diệt, khủng bố.
Con
thuyền Phật giáo lại gặp phải phong ba bão táp: hết hạn
pháp nạn Phật giáo năm 1963 dưới thời Ngô Đình Diệm, lại
đến các chính phủ kế tục thay nhau đàn áp Phật giáo bằng
đủ mọi âm mưu thủ đoạn. Họ một mặt gây sức ép với
các hoạt động Phật giáo, một mặt ly gián, xé lẻ nội
bộ Giáo hội hầu giảm thiểu sức đề kháng chính quyền.
Sự kiện “Việt Nam Quốc Tự” là một vết nhơ đau lòng
nhất của Tăng tín đồ miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ.
Trước
những thực trạng đau lòng đó, không ngại tuổi đời đã
cao, tuổi đạo chưa nhiều, chỉ vì tấm lòng với đạo không
gì so sánh ! Thầy đi đến quyết định cuối cùng : dùng ngọn
lửa thiêu đốt xác thân huyễn hóa của mình, để cảnh tỉnh
chính quyền sửa đổi hành động sai lầm và thực thi đường
lối phù hợp với nền hòa bình đạo pháp và dân tộc.
Ngày
11 tháng 6 năm 1970, lúc 4 giờ 15 phút, nhằm ngày mồng 8 tháng
5 năm Canh Tuất, dưới gốc cây Bồ đề chùa Phổ Quang, quận
Phú Nhuận, tỉnh Gia Định, Thầy đã tịch tọa trong ngọn
lửa hồng rực sáng để cầu nguyện cho hòa bình Việt Nam
và đạo pháp trường tồn. Thầy trụ thế 74 tuổi và được
15 tuổi đạo.
Thầy
đã để lại 3 bức thư gửi :
1.
Dâng lên Hội đồng Viện Hóa Đạo.
2.
Dâng lên Hòa thượng Bổn sư Thích Hải Tràng.
3.
Gửi Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa.
Sự
hy sinh vì đạo pháp và dân tộc của Thầy đã tô đậm thêm
nét son trang sử Phật giáo và đất nước. Hình ảnh một
vị Tu sĩ dám quên mình tự thiêu, trở thành ngọn đuốc sáng
thiêng liêng, bất tử trong lòng các thế hệ Tăng Ni, Phật
tử Việt Nam.