HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THIỆN NGÔN
(1894
– 1970)
Hòa
thượng Thích Thiện Ngôn, tục danh là Hồ Văn Ngữ, sinh năm
Giáp Ngọ (1894) tại tỉnh Quảng Ngãi, trong một gia đình khá
giả. Vốn sẵn có bản tính hiền hòa, tâm niệm của Ngài
luôn hướng về Phật pháp. Lại gặp cảnh mồ côi mẹ từ
thuở nhỏ, thấm thía luật sinh tử, thành hoại của kiếp
nhân sinh, Ngài bèn lần vào phương Nam tìm thầy học đạo.
Bước
đầu chơ vơ nơi đất khách, Ngài được một đại điền
chủ là ông Hội đồng xã Bình Thạnh Tây, quận Lấp Vò,
tỉnh Vĩnh Long (nay là tỉnh Đồng Tháp) cảm mến giúp đỡ,
nuôi ở trong nhà. Bấy giờ ông Hương Cả ở Đốc Vàng có
ý định gá nghĩa tào khang người con gái cho Ngài nhưng Ngài
không bằng lòng. Biết rằng ở lại đây lâu ngày sẽ bị
rơi vào sự ràng buộc thê nhi, Ngài bèn quyết trốn đi tìm
nơi thanh tịnh để lo trau dồi đạo đức.
Đã
quen với nếp sinh hoạt của miền Nam, lại tìm hiểu thêm
được cảnh trí địa phương, bước đầu Ngài hướng tới
núi Thất Sơn, nơi nổi danh huyền bí của miền Tây Nam bộ
. Do nhơn duyên từ những thuở nào, nên khi tới linh địa
này, Ngài liền gặp Sư ông núi Cấm đang dạy pháp cho khoảng
20 Tăng Ni và đang dịch kinh Pháp Hoa. Ngài đem lòng cảm mộ,
phát nguyện quy y Tam bảo và xin được ở lại làm công quả
để nương thân học đạo, gieo trồng cội phúc.
Năm
1930, tới khi hội đủ điều kiện xuất gia, Ngài đến xin
thế độ với Hòa thượng Thích Chí Thiền, tọa chủ chùa
Phi Lai ở làng Tú Tề, tổng Thành Ý, quận Tri Tôn, tỉnh Châu
Đốc (nay thuộc An Giang). Được ít lâu sau, năm 1933, Hòa thượng
Phi Lai về Tây cảnh, Ngài cùng với một bạn đồng tu là
vị trụ trì chùa Thanh Quang giúp nhau tu học.
Năm
1940, tại núi Cô Tô quận Tri Tôn – Châu Đốc, Ngài đã cầu
pháp với Hòa thượng trụ trì chùa Thanh Sơn. Trong thời gian
thọ pháp tại đây, Ngài phát nguyện nhập thất ba tháng để
chiêm nghiệm chân lý giải thoát. Khi mới vào nhập thất tại
tầng cấp thứ nhì của núi này, Ngài đã gặp không ít nghịch
duyên chi phối việc tu hành. Nhưng với gươm trí tuệ và chí
đại hùng, Ngài không sờn lòng nản chí, cương quyết vượt
tất cả mọi ma lực. Nhờ vậy, Ngài đã mộng thấy Phật
hiện thân chỉ pháp quán. Từ đó Ngài phát nguyện chỉ dùng
ngọ trai suốt đời.
Ba
tháng nhập thất không tròn đủ, vì có chúng sinh cầu độ.
Khi Ngài vừa tỏ ngộ đạo thiền, thì có ông Phủ Hiệp từ
Nam Vang tìm đến. Ông thưa đã 60 tuổi rồi mà chưa gặp được
minh sư thế độ, nên mới tạo cảnh chùa Đức Quang, thành
tâm và tha thiết cung thỉnh Ngài nhận lời tới trụ trì để
dìu dắt ông cũng như chúng sinh quanh vùng trên bước đường
tu học. Vì lòng từ bi vô lượng, lại thấy thí chủ quá
tha thiết cung thỉnh, Ngài quyết định ra thất để thực
hiện sứ mạng “trụ Pháp vương gia, trì Như Lai tạng”.
Năm
1945, Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, cao trào giành độc lập
phát khởi. Tiếp đến quân Pháp trở lại, cuộc Nam bộ kháng
chiến bắt đầu, chiến tranh lan tràn khắp nơi. Trên núi không
còn yên ổn nữa. Tuy nhiên Ngài vẫn nán lại thêm vài năm.
Đến lúc tình hình quá căng thẳng, Ngài buộc lòng phải xuống
núi với sự bảo hộ của ông Hai Hé chủ hãng xe Đại Phước.
Khi
đi đến làng Mặc Cần Dưng, đúng lúc bà mẹ ông Xã Phùng
vừa tạ thế. Gặp Ngài ông rất mừng, liền cung thỉnh Ngài
ở lại chứng đám tang và lưu trú tại tịnh thất để tu
trì. Tống táng xong, đêm đó Ngài trằn trọc mãi, không sao
ngủ được, linh tính báo cho Ngài biết có Phật sự đang
chờ ở một phương nào đó. Vì thế sáng hôm sau Ngài cảm
ơn thí chủ và từ giã ra đi vì có Thiền sư Thiện Đạo
cung thỉnh Ngài về chùa Phước Thạnh của Thiền sư tại
xã Mỹ Thới quận Châu Thành – Long Xuyên để cúng dường.
Tới bất cứ nơi đâu Ngài cũng trì tụng kinh Pháp Hoa. Nhưng
ở đây không có bản kinh bằng tiếng Việt, Ngài bèn cùng
Thiền sư Thiện Đạo đáp thuyền tới chùa Thanh Quang ở Vàm
Cống, trước là để thỉnh kinh, sau là để thăm lại Tăng
hữu cũ xa cách đã quá lâu.
Thuyền
vừa cặp bến đúng lúc người Tăng hữu cũ vừa viên tịch,
nhục thân còn nằm đó. Gặp Ngài mọi người hết sức mừng
rỡ, vì theo lời trước khi viên tịch, thầy trụ trì căn
dặn đệ tử đôi ba lần rằng : “giao ngôi Tam bảo này cho
vị Đại đức nào từ núi xuống lúc nhục thân Ngài chưa
liệm”. Quả do duyên lành đã kết từ lâu nên mới có sự
trùng phùng kỳ lạ này. Sau khi an táng vị cố trụ trì xong,
hiếu đồ và bổn đạo bèn đảnh lễ và thỉnh Ngài ở lại
trụ trì theo như lời di chúc. Thế là Ngài đã ở lại hoằng
dương đạo pháp và trùng tu ngôi cổ tự.
Thời
gian sau Ngài lại gặp nghịch duyên bởi một số người phe
phái ghen ghét, làm chướng căn lành, Ngài bèn ra ở nơi túp
lều tranh ngoài đồng vắng tiếp tục tu trì. Thấy như vậy,
Cư sĩ Hai Chơi chủ chùa Long Phú bèn cung thỉnh Ngài về trụ
trì chùa ấy tại chợ Lấp Vò. Chẳng bao lâu, quân Pháp kéo
đến chiếm đóng chùa, chỉ dành lại cho Ngài căn phòng nhỏ.
Bấy giờ có tên cai xếp thấy Ngài hàng ngày chỉ độ cơm
trưa với tương chao dưa muối đạm bạc, bèn hỏi Ngài tu
hạnh gì ? – Ngài trả lời :
“Tôi
chỉ tu hạnh ăn Ngọ để cầu nguyện cho đất nước sớm
thanh bình. Khi nào nhân dân Việt Nam được an cư lạc nghiệp,
đất nước được thanh bình thì tôi mới ăn hai bữa”.
Câu
trả lời của Ngài đã đánh thức Phật tâm trong người tên
cai xếp. Y liền ra lệnh cho bọn lính dưới quyền chùi rửa
chùa sạch sẽ, rồi trả lại cho Ngài, vợ chồng y đều xin
làm lễ quy y với Ngài. nhờ sự kính nể của y đối với
Ngài, nên Ngài đã dùng đức độ đạo hạnh của mình để
thuyết phục những kẻ thuộc quyền y. Nếu dân lành có ai
bị tình nghi bắt oan, Ngài đều đích thân bảo lãnh và họ
được chúng tha ngay. Lòng từ bi và chí nhẫn nại của Ngài
đã làm cho những Phật tử trước kia xung khắc với Ngài
nay quay về sùng kính nên Ngài lại được cung thỉnh trở
lại chùa Thanh Quang.
Kể
từ đó, Ngài bắt đầu tiếp Tăng độ chúng rải khắp miền
Hậu Giang, Tăng Ni được làm lễ xuất gia hay cầu pháp với
Ngài ngày một nhiều. Vì tiền đồ Phật giáo và để có
những vị Tăng tài kế vãng khai lai, Ngài đã đem gửi một
số Tăng Ni lên Sài Gòn vào học tại một số chùa như : Giác
Nguyên, Bình An, Pháp Hội, Ấn Quang, Phật Ấn, Vạn Đức,
Huệ Nghiêm, Dược Sư v.v... Với các Tăng ni lớn tuổi, hàng
năm Ngài gửi đi nhập hạ an cư 3 tháng tại các chùa trên
đây hoặc tại các Tổ đình khắp miền Nam.
Đối
với phong trào chấn hưng Phật giáo, Ngài sốt sắng tham gia.
Khi Hội Phật học Nam Việt được thành lập, Ngài là Tăng
già Chứng minh Đạo sư của Tỉnh hội Long Xuyên. Sau đó Ngài
lại giữ chức Trị sự trưởng của Giáo hội Tăng già Long
Xuyên. Năm 1964, khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
ra đời, Ngài được mời làm Cố vấn Chứng minh Ban đại
diện Phật giáo tỉnh Long Xuyên (nay là tỉnh An Giang).
Được
tin Hòa thượng Phước Trung trụ trì chùa Phước Hậu viên
tịch, Ngài liền đến đảnh lễ linh quan. Không ngờ Ngài
lại được ban chức sự của chùa và bổn đạo cung thỉnh
trụ trì chùa này. Nhờ có nguyện lực cao, Ngài bền lòng
cố gắng tô bồi sửa chữa từ một ngôi cổ tự u trệ trở
nên môt ngôi phạm vũ khang trang.
Hai
năm sau, tháng Chạp, ngày 25 năm Kỷ Dậu tức ngày 1 tháng
2 năm 1970, hạnh nguyện hoàn mãn, Phật sự viên thành, Ngài
từ giã cõi sa bà một cách an nhiên, thọ 76 tuổi đời với
40 tuổi đạo.