HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THIÊN TRƯỜNG
(1876
– 1970)
Hòa
thượng Thích Thiên Trường, pháp danh Như Lý, nối pháp đời
thứ 39 dòng Lâm Tế Gia Phổ, Ngài thế danh Nguyễn Văn Hanh,
sinh năm Bính Tý 1876, tại quận An Hóa, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc
huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre). Thân phụ Ngài là ông Lê
Văn Phúc, thân mẫu là bà Huỳnh Thị Quới, quê ở thôn Phú
Hội, xã Điều Hòa, tỉnh Mỹ Tho.
Thuở
nhỏ, Ngài thường theo mẹ về quê, vào chùa Bửu Lâm lễ
Phật. Hòa thượng trụ trì húy Minh Đạt, tự Huyền Dương
thấy Ngài tướng mạo thông minh đĩnh ngộ nên rất thương
yêu, nhiều lần bảo với mẹ Ngài cho xuất gia. Nhưng bởi
duyên trần chưa dứt, năm Nhâm Thìn 1892, song thân định đôi
bạn cho Ngài. Vợ chồng có với nhau 3 người con, hai trai một
gái. Hai người con trai đều tham gia cách mạng, người con
đầu hy sinh; người con thứ hai tên Lê Văn Tỵ làm đại sứ
ở Bỉ. Sau ngày giải phóng về nước làm Chủ tịch Mặt
trận đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo, đã hưu trí. Người
con gái tên Lê Thị Mỹ.
Bởi
nợ hồng trần không nặng nên người bạn đời của Ngài
mạng số ngắn ngủi, sau khi sanh con được ít lâu, bà lâm
bệnh nặng và qua đời. Thấm thía lẽ sanh tử vô thường
nên Ngài sắp xếp việc gia đình, nhờ mẹ chăm sóc nuôi dưỡng
các con. Rồi tháng 7 năm 1898 (Mậu Tuất), Ngài đến chùa Bửu
Lâm xin thế xuất gia với Hòa thượng Minh Phước – Tư Trung,
nương Hòa thượng Bổn sư tu học được hai năm.
Đến
năm 1900 (Canh Tý), Hòa thượng Minh Phước về chùa Bửu Hưng
ở Xẻo Vẹt, Sa Đéc, đổi cho Hòa thượng Minh Tông – Nhứt
Bổn về trụ trì chùa Bửu Lâm. thế là Ngài lại nương theo
Hòa thượng Minh Tông để tu học. Ít năm sau, Hòa thượng
Minh Tông viên tịch, Ngài được kế tục trụ trì.
Năm
1904 (Giáp Thìn), sau trận bão lớn chùa Bửu Lâm bị hư sập,
Ngài đứng ra trùng tu sửa chữa. Nhưng ít lâu sau, chùa xuống
cấp trầm trọng, Ngài cho tháo dỡ xây dựng lại mới hoàn
toàn. Đến năm 1907, chùa mới xây cất xong.
Tháng
4 năm 1908 (Mậu Thân), Ngài tổ chức lễ khánh thành chùa và
khai trường Hương, chư Tăng các tỉnh miền Tây về nhập
Hạ rất đông, trên dưới 200 vị. Trước ngày hưu Hạ Ngài
mở trường Kỳ, thỉnh Hòa thượng Hoằng Ân – Minh Khiêm,
trụ trì chùa Giác Lâm làm Hòa thượng Đàn Đầu. Về sau,
Ngài cầu pháp với Hòa thượng Hoằng Ân – Minh Khiêm và
cất am Viên Giác ở phía sau chùa để Hòa thượng nghỉ lại
ở đây dạy đạo.
Ngài
duyên may được thọ giáo tu học với 3 vị cao Tăng nên sở
học của Ngài thêm uyên thâm, quảng bác. Ngài có làm đôi
liễn lấy tên chùa và tên Ngài đối nhau rất hay :
Bửu
hòa Thiên địa tam quang chiếu
Lâm
thượng Trường hưng tứ chúng tôn.
Năm 1920
(Canh Thân), sau khi Hòa thượng Minh Phước viên tịch, chùa
Bửu Hưng ở Sa Đéc không người trông coi, dần dần hoang
phế hư hoại nên Phật tử cúng ngôi chùa lại cho Ngài. Ngài
phải về trùng tu, sau đó giao cho đệ tử là Hồng Lệ trụ
trì.
Từ
năm 1925 về sau, Ngài họp sức cùng Hòa thượng Khánh Hòa
ở Bến Tre lo vận động phong trào chấn hưng Phật giáo và
thành lập Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, đặt trụ sở
tại chùa Linh Sơn – Sài Gòn. Nhưng về sau bị ông Trần Nguyên
Chấn cản trở không mở được Thích học đường để đào
tạo Tăng tài nên các vị Hòa thượng rút về miền Tây. Sau
đó, thành lập Liên đoàn Phật Học xã, giảng dạy lưu động,
luân phiên mỗi chùa 3 tháng. Liên đoàn này hoạt động được
khoảng một năm thì tan rã.
Kế
đến, năm 1934 (Giáp Tuất), Hội Lưỡng Xuyên Phật Học ra
đời, đặt trụ sở tại chùa Long Phước, tỉnh Trà Vinh.
Hòa thượng An Lạc chùa Vĩnh Tràng là Hội trưởng khóa đầu
và Ngài là hội viên sáng lập từ năm 1935 đến năm 1945.
Ngài
có tinh thần yêu nước sâu nặng nên vào khoảng thời gian
1920 – 1935, lúc bị giam lỏng tại Mỹ Tho, nhà cách mạng
Phan Châu Trinh thường hay tới lui đàm đạo với Ngài rất
tâm đắc và sau đó trở thành đôi bạn tâm giao.
Chùa
Bửu Lâm vào thời đó tuy nằm gần chợ Mỹ Tho, thuộc Xóm
Dầu, một địa phận sầm uất nhưng đường vào chùa cây
cối rậm rạp, nên trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
các nhà cách mạng lão thành như Mai Bạch Ngọc, Nguyễn Văn
Nguyễn, Xích Hồng thường chọn nơi đây làm địa điểm
hội họp.
Thời
kỳ chống Mỹ, các cán bộ lãnh đạo như Phạm Hùng, Nguyễn
Thị Lựu, Huỳnh Hoa... cũng thường gặp gỡ hội họp nơi
đây. Chùa có một tủ thờ Hộ pháp rất rộng, có thể chứa
đến 15 người khi có động tịnh. Ngoài ra, do có Ngài luôn
trông chừng bảo vệ ở bên ngoài nên cán bộ hội họp rất
yên tâm.
Năm
1954, hòa bình lập lại, Hội Phật giáo Cứu Quốc giải tán.
Giáo hội Lục Hòa Tăng được thành lập hoạt động công
khai. Ngài được suy tôn làm Đại Tăng trưởng.
Năm
1956, Đoàn Công Dân Vụ và Bình Định Nông Thôn của chính
quyền Ngô Đình Diệm đến xin trùng tu lại chùa, nhưng Ngài
từ chối. Cũng trong năm ấy, Ngài được mời tham dự Đại
hội thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam, tổ chức tại
chùa Ấn Quang – Sài Gòn, liên tục trong 5 ngày.
Năm
1962 (Nhâm Dần) Đại giới đàn tổ chức tại chùa Giác Lâm,
cung thỉnh Ngài làm Hòa thượng Đàn Đầu. Ngài lúc này tuổi
đã cao (88 tuổi), sức khỏe đã kém, nhưng vì Phật sự nên
Ngài vẫn hoan hỷ chống tích quang lâm trợ duyên cho đàn giới
được thành tựu viên mãn.
Trong
suốt cuộc đời hành hóa, Ngài luôn nhiệt tâm với đạo
pháp, không từ nan một Phật sự nào. Ngoài việc giảng dạy
gia giáo, Chứng minh Đàn giới, trùng tu tự viện, có thể
nói sự nghiệp thế độ xuất gia của Ngài là một công hạnh
lớn. Ngài hóa độ rất nhiều đệ tử, trong số có những
vị danh tiếng như : Hòa thượng Trí Long chùa Vĩnh Tràng, các
Hòa thượng Bửu Đức, Triều Long, An Long, Hồng Lệ, Thiện
Căn, Bửu Hưng...
Đóa
hoa tứ đại trong suốt một mùa xuân dài tỏa hương sắc
tô điểm cho ngôi nhà Phật pháp nay đã đến hồi tàn héo,
phân ly. Năm 1970 (Canh Tuất), ngày 24 tháng 4, Ngài viên tịch
tại chùa Bửu Lâm, hưởng thọ 94 tuổi, 50 Hạ lạp. Môn đồ
pháp quyến cử hành tang lễ rất trọng thể và xây tháp kính
thờ trong khu Tháp mộ phía sau chùa Bửu Lâm.