HÒA
THƯỢNG
THIỆN
LUẬT
(1898
– 1969)
Hòa
thượng Thiện Luật, pháp danh VinayaKusala Bhikkhu, thế danh Ngô
Bảo Hộ, sinh năm Mậu Tuất 1898 tại Sa Đéc, nay là tỉnh
Đồng Tháp. Phụ thân Ngài là cụ Ngô Văn Nghi – vốn là
người Triều Châu, do điều kiện sinh hoạt nên đã đưa cả
gia đình sang Cao Miên lập nghiệp tại tỉnh Prey-Veng (hay Lò
Veng, tức làng Hòa Mỹ theo cách gọi của cộng đồng người
Việt xa xứ).
Cụ
ông Ngô Văn Nghi tinh thâm Hán văn, giỏi Đông y, Tử vi đẩu
số và còn là một Kỳ vương kiệt xuất. Được lớn lên
bên một người cha đa tài như vậy, nên từ thuở trẻ Ngài
đã sớm hấp thụ những tinh hoa ấy. Ngoài kiến thức lập
thân học được từ thân phụ, Ngài còn là một thanh niên
được bạn bè nể phục vì bản tính cương liệt, khả năng
võ thuật hơn người và ngón đàn độc huyền một thời xao
động những đêm trăng vàng ở làng Hòa Mỹ xa xôi kia. Cũng
không ít những thanh niên bản xứ của đất nước chùa tháp
kia đã từng theo học những ngón nghề của nam tử tài
hoa Ngô Bảo Hộ.
Thuận
theo thế thường, năm 26 tuổi Ngài lập gia đình cùng bà Lưu
Kim Phùng, con gái một gia đình kiều bào cùng sinh sống tại
làng Hòa Mỹ. Cuộc sống gia đình chỉ tròn 8 năm thì bà qua
đời, để lại cho Ngài 4 người con thơ, 1 trai 3 gái, rồi
đến con gái thứ cũng ra đi theo bà. Buồn vì nỗi bất hạnh
của gia đình, Ngài được các vị Sư ở chùa làng thuyết
giảng, bỗng nhận chân ra lý vô thường, thế là Ngài quyết
định chọn cho mình hướng đi giải thoát.
Năm
Giáp Tuất 1934, Ngài dẫn theo con trai là Ngô Bửu Đạt đến
chùa Prek-Reng, một ngôi chùa ở ven sông xin xuất gia. Hòa thượng
trụ trì chấp thuận cho Ngài thọ giới Sa di, ban cho pháp danh
là Thiện Luật (VinayaKusala) , còn con trai Ngài thì được Hòa
thượng nhận làm nghĩa tử, dưỡng nuôi trong chùa hầu cận
chư Tăng.
Tu
học tại đây một thời gian, Ngài quyết định rời chùa
Prek-Reng, đưa con trai đến gởi nơi Niệm Phật đường Thiền
Lâm của kiều bào lập nên, do Bác sĩ Lê Văn Giảng quản
trị (sau này là Hòa thượng Hộ Tông). Riêng Ngài, đến tu
học tại chùa Sùng Phúc ở quận 5, thành phố Phnom-Pênh, cũng
là ngôi chùa do kiều bào Việt Nam xây dựng trên đất Cao
Miên. Có thể nói đây là cơ sở đầu tiên để hệ phái
Phật giáo Nam Tông du nhập vào xã hội người Việt sau này.
Chùa đây là nơi phát hành tờ đặc san đầu tiên của Phật
giáo Nam Tông Việt Nam, cùng một số kinh sách Nam Tông bằng
tiếng Việt.
Năm
Đinh Sửu 1937, lúc 39 tuổi, Ngài chính thức thọ giới Tỳ
kheo với Thầy Tế độ là Ngài Phó Tăng Thống Cao Miên là
Hòa thượng Uttamamuni Um-Su, Thầy Yết ma là Hòa thượng Som
Dach Choun Nath (sau là vua Sãi Cao Miên) và Thầy Giáo thọ hướng
dẫn Phật học là Ngài Hout-That (sau là Phó Tăng thống, rồi
vua Sãi, bị Pôn-Pốt sát hại năm 1975). Ba vị trên đây cùng
Hòa thượng Chan-Wang là bốn vị học giả uyên thâm, lừng
danh nhất của Cao Miên thời bấy giờ.
Sau
khi thọ đại giới Tỳ kheo, Ngài nhập chúng tu học tại chùa
Sri Sagor, tại đây có khoảng 25 vị Tăng Việt Nam cùng tu học,
Ngài được xem là Sư huynh chăm sóc vấn đề ăn ở cho anh
em đồng hương. Ngài bắt đầu chuyên tâm nghiên cứu Luật
tạng, trước là để tu trì, sau là để chuẩn bị cho tâm
nguyện hoằng truyền Phật pháp về quê hương, mà Ngài tự
cảm nhận mình có phần lớn trách nhiệm gánh vác.
Năm
Canh Thìn 1940, sau khi xin phép cho con trai được thọ giới Sa
di, Ngài cũng xin phép Hòa thượng trụ trì chùa Sri Sagor cho
mình trở về Niệm Phật đường Thiền Lâm để tu học và
xây dựng lại vì chùa đổ nát. Về đây, Ngài nhặt nhạnh
từng thanh gỗ viên ngói, dốc lòng tái thiết chùa Thiền Lâm
khang trang hơn trước. Với tâm nguyện cũ ngày nào vẫn canh
cánh bên lòng, Ngài tiếp tục tạo mọi điều kiện nâng đỡ
chư Tăng Việt Nam. Một số vị Giáo thọ Sư từ hệ phái
Bắc Tông cũng đã tìm đến đây tá túc tầm đạo. Trong đó
có Ngài Ấn Lâm, khi mới từ Bắc phái sang Nam truyền (sau
là Tăng thống hệ phái Nam Tông Việt Nam) cũng đã một thời
cư ngụ tại đây.
Cùng
năm này, nhận thấy con đường hành đạo của mình không
thể chỉ là những tháng ngày gởi mình nơi đất khách, Ngài
bắt đầu nghĩ nhiều về quê hương Việt Nam. Nhân duyên đến
lúc chín muồi, được sự động viên của Hòa thượng Choun
Nath cùng chư Tăng Phật tử Việt Nam, Ngài về nước thu nhận
chùa Bửu Quang ở Gò Dưa – Thủ Đức làm ngôi chùa đầu
tiên của Phật giáo Nam Tông tại Việt Nam. Cùng đi với Ngài
còn có Sư Hộ Tông, Sư Hộ Giác và các Phật tử kiều bào.
Năm
Tân Tỵ 1941, do Sư Hộ Giác không quen được với phong thổ
mới nên ngã bệnh, buộc lòng Ngài đưa Sư trở lại Phnom-Pênh,
Ngài đến ngụ tại chùa Mahàmantrey, và được xem là huynh
trưởng của một nhóm chư Tăng Việt Nam mười mấy vị. Ngài
ngụ tại chùa Mahàmantrey tiếp tục nghiên cứu Luật tạng
cho đến kỳ kiết tập Tam tạng lần thứ 6 năm 1954 tại Miến
Điện.
Năm
Bính Thân 1956, Ngài được Phật tử Việt Nam thỉnh về chùa
Kỳ Viên ở Bàn Cờ – Sài Gòn để thuyết giảng Phật pháp
thường kỳ tại đây. Tháng 4 năm 1957, Giáo hội Phật giáo
Nam Tông Việt Nam được chính thức thành lập, một Hội đồng
Tăng Già Chưởng quản do Ngài Bửu Chơn đảm nhiệm Tăng thống
và Ngài làm Phó Tăng thống.
Năm
Đinh Dậu 1957, Ngài được Phật tử cung thỉnh về chùa Phổ
Minh ở Gò Vấp – Gia Định. Tại đây, Ngài đã thu nhận
các đệ tử xuất gia, mở lớp giảng dạy chư Tăng Nam Tông
được trên mười vị, hầu hết đều còn trẻ tuổi, đó
là lớp chư Tăng Nam Tông đầu tiên được đào tạo tại
Việt Nam, do Ngài và Sư Hộ Giác sau khi tốt nghiệp về nước
trực tiếp phụ trách giảng dạy.
Năm
Mậu Tuất 1958, Ngài cùng Sư Hộ Giác kiến lập chùa Pháp
Quang ở gần cầu Bình Lợi – Gia Định và về đây trụ
trì. Chư Tăng Nam Tông từ đó có một Học viện hẳn hoi.
Ngôi trường này đã đào tạo nên nhiều Tăng tài phục vụ
cho Giáo hội cũng như tu học hoằng truyền Phật pháp trên
khắp thế giới.
Năm
Quý Mão 1963, chính sách kỳ thị tôn giáo của chế độ Ngô
Đình Diệm được thực hiện khốc liệt với Phật giáo Việt
Nam. Trong tư cách một tu sĩ, một vị lãnh đạo tinh thần
cho nhiều Tăng Ni Phật tử, Ngài đã có mặt trong Ủy ban Liên
phái Bảo vệ Phật giáo, đấu tranh cho quyền tự do, bình
đẳng của Phật giáo đến khi thành công.
Năm
Giáp Thìn 1964, sau khi chế độ Ngô Đình Diệm cáo chung, Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập, Ngài
được suy cử ngôi vị Phó Tăng thống Giáo hội Phật giáo
Việt Nam Thống nhất.
Năm
Bính Ngọ 1966, Ngài được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Bảo
vệ Hiến chương Phật giáo, và Ngài giữ chức vụ này cho
đến cuối đời. Tuy Phật sự nặng gánh nhưng việc tu tập
và truyền pháp lợi sanh của Ngài vẫn không hề giảm bớt,
như tâm nguyện góp phần tạo nên một hệ phái Phật giáo
Nguyên thủy của người Việt ngày càng phát triển vững chắc
trong ngôi nhà chung Phật giáo Việt Nam.
Tuổi
già sức yếu, Hòa thượng Thiện Luật đã viên tịch vào
ngày mùng 9 tháng 7 năm Kỷ Dậu, nhằm ngày 21 tháng 8 năm 1969,
tại chùa Pháp Quang, thọ thế 71 năm, có 32 tuổi Hạ.