VỊ
PHÁP THIÊU THÂN
THÍCH
HẠNH ĐỨC
(1948
– 1967)
Thầy
Thích Hạnh Đức, thế danh là Trần Văn Minh, sinh ngày mồng
10 tháng 4 năm 1948 (nhằm mùng 2 tháng 3 năm Mậu Tý), tại xã
Bình Đức, quận Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Thầy
sinh trưởng trong một gia đình nông nghiệp thuần lương, có
truyền thống tín ngưỡng Phật đạo lâu xa. Thông minh, hiền
hậu, luôn hòa ái để học hỏi, thân cận; nên Thầy rất
được lòng với mọi người. Do vậy, Ngài đã sớm có những
mối quan hệ đạo tình ngay từ tấm bé, kỷ niệm tuổi thơ
rất đẹp với các bạn cùng trang lứa trong làng cùng nhau
đến chùa tụng kinh và nghe giảng.
Ngay
từ những năm tiểu học ở trường làng, Thầy đã được
xem là tấm gương hiếu học và rất mực lễ độ với thầy,
cô và với bạn bè.
Tháng
6 năm Kỷ Hợi (1959), Thầy được gia đình đồng ý cho xuất
gia tu học nơi chùa Viên Giác – Thanh Thanh Sơn (núi Thình Thình
thuộc hạt Sơn Tịnh, giáp ranh với Bình Sơn) làm đệ tử
của Hòa thượng Thích Huyền Đạt. Thầy đã nhanh chóng chiếm
được lòng tin yêu của đại chúng, Bổn sư nhận thấy nơi
Thầy có tư chất thông minh, nên khuyến khích cố gắng tiếp
tục con đường học vấn là việc ưu tiên.
Sau
lưng chùa Viên Giác - Thanh Thanh Sơn là cả một vùng đồi
thoai thoải thuộc quyền sở hữu Tăng chúng trong chùa, ngoài
việc tu học còn phải tham gia công việc trồng tỉa, thực
hiện phương châm của Tổ Bách Trượng “Nhất nhật bất
tác, nhất nhật bất thực”. Công tác nông thiền ấy không
ngoại trừ bất cứ ai. Thầy tuy chưa đến tuổi phải nhọc
sức như các sư huynh vì còn ưu tiên cho việc học, nhưng vẫn
xông xáo bằng tất cả những thì giờ rảnh rang để phụ
giúp phần nào công việc. Nhờ vậy mà Thầy trông khỏe và
vạm vỡ như một thiếu niên.
Năm
Quý Mẹo (1963), như bao ngôi chùa khác, chùa Viên Giác cũng
hòa mình vào công cuộc đấu tranh chống chế độ gia đình
trị Ngô Đình Diệm, vì họ đang ra sức tận diệt Phật giáo.
Ngày ngày cắp sách để trường quận lỵ xa xôi, nhưng với
tuổi 15 nhanh nhẹn ấy, Thầy mang đi mang về những thông tin
liên lạc từ chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội tỉnh với
Bổn sư là Cố vấn Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo tỉnh
Quảng Ngãi.
Những
ngày tháng này, trước cảnh đau thương của Phật giáo, đã
chuyển biến tâm hồn Thầy trở nên trầm tư trước tuổi,
từ đó bao nỗi uẩn khúc khi được bày giải, đã làm ngạc
nhiên Bổn sư và chư huynh đệ được nhân lên dành cho Thầy.
Năm
Giáp Thìn (1964), sau khi hoàn thành công cuộc đấu tranh giành
lại quyền tự do tín ngưỡng và chế độ Ngô Đình Diệm
sụp đổ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra đời
với hiến chương pháp lý. Phật giáo Việt Nam bước sang trang
sử mới với quy mô hoạt động rộng rãi, phù hợp với đà
tiến hóa của thời đại đó. Từ cơ sở thuận lợi ấy,
hàng Tăng sĩ được dịp tiếp cận với thực trạng xã hội
để nâng bước phát triển. Chùa Viên Giác tuy ở vùng sâu
nhưng là ngôi chùa đi tiên phong đáp ứng các chủ trương
của Giáo hội, do Bổn sư Ngài được thỉnh cử làm Đặc
ủy Tăng sự của Tỉnh hội Phật giáo Quảng Ngãi, nên Tăng
chúng trong chùa được nhờ hồng ân oai đức đó, có điều
kiện hòa nhập nhanh chóng. Thầy là một trong những nhân tố
được đặt để và giúp đỡ trong sự hòa nhập đó.
Năm
Ất Tỵ (1965), trước nhu cầu cấp thiết của Giáo hội là
đào tạo Tăng tài có khả năng và trình độ kiến thức để
hoằng dương chánh pháp. Thầy được Bổn sư gởi lên chùa
Tỉnh hội để tiện việc học ngoại điển nơi trường Trung
học Bồ Đề tỉnh, đồng thời có điều kiện gần gũi chư
tôn đức tham cầu Phật đạo. Đây là dịp may hiếm có trong
đời tu sĩ nên Thầy rất hân hoan lạy tạ Bổn sư y giáo
du học.
Năm
Bính Ngọ (1966), Thầy đã thọ Sa di giới tại Giới đàn chùa
Hội Phước, tỉnh Quảng Ngãi. Việc học không xao lãng, việc
đạo chẳng lìa xa, Thầy đã đi từng bước vững chắc trên
lộ trình tiến tu trí đức, mang theo bên mình hoài bão phụng
sự chúng sanh cao đẹp và tuân hành lý tưởng Giáo hội một
cách thiết tha.
Khi
thọ Sa di giới cũng là lúc trình độ nhận thức của Thầy
đã trưởng thành. Do vậy, Thầy đã chạm phải một thực
trạng đau đớn khác đến với Giáo hội, có bàn tay đối
nghịch thâm độc của chính quyền kế sau Diệm. Vết rạn
nứt trong lòng Giáo hội đã manh nha từ lâu, nay lại thêm
tác động xấu ấy đã trở nên trầm trọng, khiến Viện
Tăng Thống và Viện Hóa Đạo phải tạm lánh bỏ mảnh đất
Việt Nam Quốc Tự của mình về đặt trụ sở tạm tại chùa
Ấn Quang.
Chính
quyền không chỉ dừng lại ở mức chia rẽ giới lãnh đạo
Giáo hội, mà ngấm ngầm hậu thuẫn cho một số tín đồ
đã không ngần ngại khiêu khích tính địa phương, biến nơi
hòa ái tiến tu trở nên đôi bờ thù hận, chia rẽ Nam-Bắc,
khiến cục diện ngày càng trở nên xấu đi. Sự khích động
ấy của chính quyền đã gây ra bao đau thương cho trang sử
Phật giáo, hình thành ra cái gọi là “Giáo hội Quốc Tự”
cùng “Giáo hội Ấn Quang” hết sức đau buồn.
Để
hợp pháp hóa “Giáo hội Quốc Tự”, chính quyền tạo ra
“Hiến chương 23/67” để phát triển ý đồ công nhận cái
mới xóa bỏ cái cũ. Phật giáo đang đứng bên bờ thảm họa
mới, chưa biết rồi sẽ đến mưu chước gì nữa trong những
ngày tháng tới.
Ngày
11 tháng 9 năm 1967, đức Tăng thống triệu tập các hệ phái
đồng sáng lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
năm 1964, để nêu rõ lập trường của Giáo hội và khẩn
trương thành lập ngay Ủy ban Bảo vệ Hiến Chương. Ngày 14-9,
Viện Tăng Thống – Viện Hóa Đạo đã gởi thư lên tướng
Thiệu với 51 chữ ký của các tỉnh – miền, yêu cầu hủy
bỏ “Hiến chương 23/67”. Thế nhưng lời khẩn cầu thiết
tha chính đáng ấy đã không được đoái hoài, một thái độ
xem thường tổ chức Phật giáo Việt Nam. Từ đó, máu xương
Tăng Ni, Phật tử tha thiết vì đạo mầu lại tiếp tục tuôn
rơi !
Ngày
31 tháng 10 năm 1967, trước hiểm họa thống hận ấy, Thầy
không ngần ngại hiến dâng tuổi thanh xuân của mình, để
bảo vệ Hiến chương Giáo hội bằng ngọn đuốc rực hồng
trước sân chùa Tỉnh hội Phật giáo Quảng Ngãi. Năm ấy,
Ngài vừa đúng 19 tuổi đời, 9 năm trau dồi đạo hạnh.