VỊ
PHÁP THIÊU THÂN
THÍCH
THIỆN HUỆ
(1948
– 1966)
Thầy
Thích Thiện Huệ tục danh Nguyễn Lang, sinh ngày 05 tháng 5 năm
1948 (Mậu Tý), tại ấp Định Nhiên, xã An Nghiệp, quận Tuy
An, tỉnh Phú Yên, thân phụ là cụ ông Nguyễn Cương và thân
mẫu là cụ bà Trần Thị Giã.
Thầy
sinh trưởng trong một gia đình thuộc thành phần bần nông
nhưng nhờ sự giáo dục nghiêm khắc của song thân, dựa vào
nền tảng đạo lý truyền thống tín ngưỡng Phật đạo nhiều
đời, nên đức tính điềm đạm và sự hiểu biết về mọi
nghĩa vụ đã sớm được phát triển.
Năm
Quý Tỵ (1953), không như những đứa trẻ khác, khi vừa tròn
5 tuổi, Thầy đã được học thẳng vào lớp 5 (lớp Một
ngày nay) mà không phải qua các năm vỡ lòng nơi trường làng,
đã khiến nhiều người ngạc nhiên, khâm phục và không ngớt
lời ca ngợi sức dạy dỗ của phụ thân Thầy. Từ đó, con
em các gia đình chung quanh đều được cha mẹ họ khuyến khích
cho chơi thân để phần nào chịu sự ảnh hưởng đáng quý
đó nơi Thầy.
Nhờ
vào mối quan hệ rộng rãi sớm sủa đó mà trong suốt quảng
đời niên thiếu cho đến lúc trưởng thành, Thầy đã huân
tập được rất nhiều hiểu biết cần thiết. Những năm
trung học là thời gian tìm hiểu Phật học thêm lớn dần
theo chí tham cầu học hỏi. Các bạn bè thêm những mối thân
mới, nhưng cũng đều gặp nhau trong lý tưởng Phật đà, khiến
con đường đến với đạo của Thầy không còn khoảng cách
xa nữa.
Năm
Quý Mẹo (1963), cùng theo kiến thức Phật học của mình lớn
lên với cả một niềm tự hào về một tôn giáo lớn của
dân tộc, cũng là nỗi đau khi Phật giáo đang đứng bên bờ
vực sự kỳ thị của chính quyền Ngô Đình Diệm, đã làm
Thầy và các bạn bật dậy hành động cùng nhau bãi khóa,
xuống đường và tham gia tuyệt thực cùng với hàng ngàn tôn
đức Tăng ni, Phật tử toàn tỉnh và miền Nam Việt Nam. Đó
là quảng đời đáng nhớ nhất của Thầy và bạn hữu. Càng
đáng nhớ hơn là tên tuổi Thầy đã bị mật vụ luôn đón
lỏng trước cổng trường để hòng bắt Thầy cùng các bạn.
Những lúc như thế, Thầy và các bạn như những con sóc khôn
lanh, lòn lách theo bản năng của tuổi trẻ năng động. Khi
mối đe dọa đến mức phải tạm lánh xa trường học, gia
đình, Thầy cùng các bạn phải sống dưới nhiều dáng vẻ,
đến cả làm “lũ hành khất trẻ”, khiến mật vụ không
ít phen điên đầu khổ nhọc đối phó.
Năm
Giáp Thìn (1964), khi chế độ độc tài Ngô Đình Diệm sụp
đổ theo tham vọng bạo quyền thì sự an lành tạm đến với
Phật giáo, cũng là đến với thời tuổi trẻ của Thầy.
Từ đây, Thầy ra sức học hành để bù lại thời gian biến
động ấy. Kết quả tiến bộ rõ nét hơn bao giờ hết.
Hình
ảnh chư tôn đức Tăng Ni, Phật tử xả thân vì đạo pháp
luôn khắc đậm trong tâm khảm, khiến lòng khâm phục, ngưỡng
mộ nơi Thầy thêm rạng rỡ thôi thúc. Đặc biệt các bậc
Tử Đạo đã đem thân mình làm đuốc soi sáng nẽo u minh,
đã nêu bật lý tưởng về một vị Tăng sĩ ngày thêm cao
đẹp nơi Thầy. Từ đây ý nguyện xuất gia đã rạo rực
nơi trái tim trẻ trung chân chính của Thầy.
Ngày
18 tháng 4 năm 1964, khi 16 tuổi, Thầy được phép song thân
cùng vài bạn hữu khác đến chùa Từ Ân ở Tuy An xin xuất
gia, được Thượng tọa Thích Từ Viên, đặt pháp danh là
Quảng Trí, pháp tự Thiện Huệ. Nhờ vào căn bản Phật học
vốn đã có từ lâu, cộng vào lòng thiết tha với Phật đạo,
nên khi đã thọ giới xuất gia Thầy tỏ ra vượt trội hơn
bạn đồng tu, khiến thầy Tổ, pháp lữ càng thêm tin tưởng
hy vọng.
Năm
Ất Tỵ (1965), Bổn sư đã gởi Thầy vào tu học tại chùa
Tu Bông, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Nơi đây sở học
của Thầy càng được củng cố và được sự quý mến của
Tăng chúng. Tuổi 17 tận dụng sức khỏe đang thời sung mãn,
Thầy tự nguyện gánh vác các công việc nặng nhọc thay cho
chư huynh đã lớn tuổi hoặc bận học ở cấp cao hơn.
Năm
Bính Ngọ (1965), Thầy được phép đăng đàn thọ Sa di giới
tại ngôi chùa đang trú xứ. Bổn sư truyền giới cho Ngài
là Hòa thượng Thích Thiên Sơn.
Đó
cũng là năm Phật giáo đang lâm vào cuộc khủng hoảng mới,
Giáo hội cũng đang đi đầu trong cuộc đấu tranh cho một
nền dân chủ lập hiến và vận động chấm dứt chiến tranh,
Thầy có đủ nhận thức để nhìn sâu vào cục diện đất
nước và Giáo hội hiện thời. Do vậy mà đã không ít lần
Thầy phải tự hỏi tại sao Phật giáo – một tôn giáo vốn
dĩ thiết tha yêu hòa bình và thực thi hạnh từ bi cao đẹp
của nhân loại, lại phải luôn gặp những chướng duyên ?
Lúc này đây, máu xương Tăng tín đồ lại tiếp tục đổ
và đã có không ít ngọn lửa tự thiêu thân làm hồi chuông
cảnh tỉnh. Những người vốn thiết tha với tiền đồ chánh
pháp sẽ không còn đủ thời gian để tự vấn hoặc đơn
lẻ buông mãi lời tiếc than, khi hàng loạt sự kiện đau lòng
liên tục đổ ập vào thân phận Phật giáo Việt Nam.
10
giờ 30 phút sáng ngày 1.6.1966, tin Thượng tọa Thiện Minh bị
ám sát hụt đã lan nhanh mọi nơi, khiến tất cả những người
con Phật đều bàng hoàng sửng sốt, trong đó có Thầy. Và
như một động lực mạnh mẽ thôi thúc, Thầy quyết định
về Sài Gòn để thực hiện một việc có ý nghĩa. Tiếc rằng
ý định đó, Thầy không thể thực hiện được ở đó, vì
chính quyền đã chốt chặt mọi nơi để ngăn ngừa, nên ngay
buổi trưa hôm ấy, Thầy đến Gò Giếng Nước Nóng tại ấp
Tân Phước, xã Vạn Phước, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa,
đã tự châm ngọn lửa thiêu thân, làm ngọn đuốc ngưỡng
vọng từ phương xa, gởi chư tôn đức kính yêu và soi đường
cảnh tỉnh nẽo u minh mà chính quyền đang bước sâu vào tội
ác.
Hôm
ấy nhằm ngày 13 tháng 4 năm Bính Ngọ (1.6.1966) – Phật lịch
2510, Ngài đã hiến dâng tuổi trẻ đầy hoài bão của mình
cho chân lý Phật giáo, Thầy hưởng dương 18 tuổi xuân, với
2 tuổi nhập đạo, và hạnh nguyện Vị pháp thiêu thân của
Thầy là tín hiệu nhập lưu thánh chủng ở mai sau.
Khi
tổ chức lễ an táng của Thầy, Tỉnh hội Phật giáo Khánh
Hòa đã phát hiện ba bức thư Thầy viết tự bao giờ để
gửi :
- Tỉnh
hội Phật giáo Khánh Hòa.
-
Bổn sư Thích Từ Viên.
-
Và gởi cho gia đình.