VỊ
PHÁP THIÊU THÂN
THÍCH
THANH TUỆ
(1946
– 1963)
Thầy
Thích Thanh Tuệ, tục danh Bùi Huy Chương, sinh năm Bính Tuất
1946, tại thôn Ba Khê, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, thân
phụ là ông Bùi Dư, thân mẫu là bà Hoàng Thị Phúc. Ngài
là người con thứ tư trong năm anh chị em (2 chị gái, anh trai,
Ngài và em út).
Gia
đình Ngài thuộc tầng lớp trung nông, có truyền thống tin
Phật nhiều đời và hầu hết anh chị em đều được giáo
dục cả về mặt trí và đức nên rất được lòng bà con
thôn xóm. Những ngày sóc-vọng hoặc các ngày lễ lớn, cả
gia đình đều trì trai giới và đi lễ chùa thường xuyên.
Do vậy mà anh em Ngài đều sớm có được niềm tin Phật pháp
trong sáng, luôn sống hòa thuận, nhường nhịn nhau, trở nên
một gia đình gương mẫu về ý nghĩa Phật đạo lẫn xã hội.
Năm
Ất Mùi (1955), thân mẫu Ngài qua đời sau cơn bạo bệnh, vốn
là một gia đình gương mẫu và vì tình thương dành cho các
con nên thân phụ Ngài quyết ở vậy, tiếp tục nuôi dạy
các con cho đến khi khôn lớn, gánh nặng lao động đều được
anh chị em Ngài tự nguyện chia đều, hầu nhẹ bớt phần
lao nhọc của thân phụ. Nhưng không vì vậy mà sức học của
Ngài suy giảm. Ngược lại càng tinh tấn thêm hơn do bởi lòng
hiếu thảo dành cho thân phụ.
Thời
niên thiếu của Ngài tuy cơ hàn nhưng cũng hưởng đầy đủ
niềm vui hồn nhiên cùng các bạn đồng lứa, những niềm
vui ấy còn là hành trang để mang đi theo suốt cả một đời
người. Những buổi trưa hè, Ngài cùng chúng bạn đến chùa
học bài, vừa là tiếp cận với Phật pháp bằng những thắc
mắc của tuổi hoa niên; nhờ đó lại được thêm các nguồn
tình cảm từ nơi quý thầy. Với phụ thân Ngài, đó là những
thú vui, những mối giao lưu rất bổ ích, không thể thiếu
mà với tâm lành của một người Phật tử, phụ thân Ngài
luôn lấy làm hoan hỷ. Từ đó, những dịp cuối tuần hay
nghỉ hè, Ngài thường theo thân phụ hoặc các anh chị em vô
Huế thường xuyên, vừa để thăm thú các ngôi già lam cổ
kính, cũng vừa tìm lại các chú Sa di ngày nào ở thôn làng
giờ đã được tu học tại đây. Nhờ đó giữa Huế và làng
thôn Quảng Trị chẳng còn cách bao xa.
Năm
Canh Tý (1960), với một gia đình như thế, việc đồng ý cho
các người con xuất gia đối với thân phụ Ngài quả là điều
nan giải, bởi hầu hết ai cũng đều muốn là người trước
tiên được vinh dự làm việc ấy. Nhưng với lòng mộ đạo
thiết tha tràn đầy, cộng vào tư chất thông minh, cả quyết
của Ngài đã chiếm được lòng tin của thân phụ; khiến
phụ thân Ngài không còn đắn đo, nhất trí cho Ngài xuất
gia học đạo tại chùa Phước Duyên, thôn Hưng Long, quận
Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (gần chùa Linh Mụ – Huế). Năm
ấy Ngài vừa tròn 15 tuổi đời, được Bổn sư đặt pháp
danh là Thanh Tuệ.
Đạt
chí nguyện lớn, lại được ở gần các mối quan hệ đạo
tình được vun trồng xưa nay và lại là nơi xứ Huế. Ngài
dốc lòng trau dồi kiến thức Phật học lẫn văn hóa phổ
thông, nên luôn chiếm được lòng tin yêu của thầy, bạn
và các Phật tử lân cận, nhờ đó việc học hành mỗi ngày
thêm tinh tấn vượt trội rõ rệt.
Tuy
việc tu học và thời khóa chấp tác công phu luôn bận rộn
đêm ngày, nhưng với tấm lòng hiếu thảo vô hạn, hằng năm,
cứ đến ngày giỗ mẹ, dẫu bận bịu thế nào, Ngài cũng
về quê Hải Lăng để trực tiếp tụng kinh cầu siêu cho thân
mẫu quá cố. Những dịp như thế, gia đình Ngài trở thành
ngày hội với những lời giảng giải Phật pháp bằng nhận
thức riêng của Ngài, trước bà con thân quyến và chòm xóm
có mặt. Nhiều lúc cha, anh và người thân còn tỏ ý muốn
Ngài về nhiều hơn để được nghe con mình, nhìn người thân
tiến bộ và kiến giải đạo lý. Có lần Ngài nói một câu
tưởng như đùa mà mãi đến sau này đó lại là lời khẳng
định rất thật : “Khi con không về nữa, Cậu và các anh
chị, bà con chòm xóm đừng buồn, vì như thế có nghĩa là
con đã thực sự đi vào nẽo đạo...”.
Năm
Quý Mão (1963) tháng 5, Ngài thi đỗ bằng Trung học Đệ nhất
cấp, chưa kịp chuẩn bị cho hành trang bước tiếp con đường
mở mang kiến thức phổ thông, thì tiếng xích xe tăng và lựu
đạn nổ báo hiệu cơn đại họa cho Phật giáo Việt Nam xảy
ra : Pháp nạn ! Ngài là một trong hàng ngàn dân Huế đầu
tiên chứng kiến cảnh chính quyền triệt hạ cờ Phật giáo
vào ngày 07.5.1963, để rồi đích thân Ngài có mặt tại Đài
phát thanh Huế ở đầu cầu Tràng Tiền lúc 21 giờ 30 ngày
08.5.1963, chứng kiến hành động dã man của cảnh sát, quân
cảnh, hiến binh, lực lượng xe thiết giáp, vòi rồng của
chính quyền Diệm, ra sức tàn sát những người vốn thờ
phụng và thực thi giáo lý từ bi của đức Phật trong tay
không một tấc sắt. Ngài chạy thoát được cuộc tàn sát
kinh hoàng ấy nhưng cũng kịp ghi vào tâm khảm hình ảnh 8
em oanh vũ gia đình Phật tử ngã gục dưới làn đạn, 4 người
khác oằn oại dưới xích xe tăng. Họ chỉ có “cái tội”
là đến để đón nghe giờ phát thanh Phật Đản, không biểu
tình, không bạo động.
Chư
tôn đức Lãnh đạo Tổng hội Phật giáo Việt Nam đã từ
đó tuyên cáo, đòi hỏi thực thi 5 nguyện vọng chính đáng
của Phật giáo Việt Nam ban hành ngày 10.5.1963, để rồi ngày
30-5 lại chính thức kêu gọi Tăng tín đồ cả nước hiệp
lực đấu tranh, bảo tồn Phật giáo, bởi máu đã đổ, thịt
đã nát, xương đã thực sự rơi ! Ngày 4 tháng 6 năm 1963,
Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo được thành lập. Ngày
11.6.1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài
Gòn. Như vậy tình thế đã lâm vào cảnh dầu sôi lửa bỏng
và mặc dầu ngày 17.6.1963 đã có thông cáo chung giữa Phật
giáo và chính quyền Ngô Đình Diệm, nhưng tội ác của Diệm
vẫn lan tràn và khốc liệt rõ nét kỳ thị.
Đến
thời điểm này, tình hình tranh đấu của Phật giáo đã diễn
ra đều khắp các tỉnh thành. Bàn thờ Phật tại gia còn phải
đem giấu huống là hình thức một Tăng sĩ dễ bị theo dõi,
gây khó dễ đủ điều và dĩ nhiên thân nhân họ ở gia đình
càng là điểm đàn áp cụ thể nữa. Gia đình Ngài là một
trong vô vàn nạn nhân ấy, thân phụ Ngài gởi thư tay khuyên
Ngài chớ nên về quê vì gia đình đêm ngày bị cảnh sát
mật vụ tra hỏi liên tục. Vốn cá tính mạnh mẽ nhưng Ngài
không khỏi thốt lên “Phật giáo làm nên tội tình gì ?”.
Như vậy pháp nạn không chỉ bổ ập vào ngôi chùa, vào quý
Tăng sĩ mà đã lan tràn đến từng gia đình, từng ngõ ngách
làng thôn quy ngưỡng Phật đạo.
Ngày
04.8.1963 (nhằm ngày Rằm tháng 6 Âm lịch), với bản tính thiết
tha yêu đạo, thương đời và một mực chí hiếu với gia
đình, đứng trước hoàn cảnh nghiệt ngã, bức xúc như thế;
Ngài quyết định về quê Hải Lăng vì ngày đó chính là ngày
giỗ thân mẫu, để tận mắt chứng kiến những hư, thực.
Kết quả thực tế đã minh chứng cho những thông tin Ngài
từng nhận được là hoàn toàn không sai sót, càng tê tái
đau lòng hơn khi thực tế ngày giỗ mẹ nhưng gia đình không
dám bày cúng như mọi năm. Khi quay gót về chùa Ngài còn văng
vẳng nghe tiếng khẩn thiết của phụ thân là chớ nên liều
lĩnh về đây nữa ! Đêm đó về lại chùa, Ngài lòng sửng
sốt hơn khi nhận được tin : Đại đức Nguyên Hương vừa
tự thiêu tại Phan Thiết trưa cùng ngày ! Từ đó, hằng đêm
Ngài thường suy tư và viết vào nhật ký mấy dòng bôi xóa
rồi gạch dưới nhóm câu “Máu đã đổ từ Huế (vụ thảm
sát đêm 08.5.1963 tại Huế) tràn đi khắp nơi, đến Sài Gòn
bùng lên ngọn lửa (Hòa thượng Quảng Đức tự thiêu ngày
11.6.1963), lửa đã lan tỏa ngược về Nam Trung bộ (Đại đức
Nguyên Hương tự thiêu ngày 4.8.1963) và sẽ còn ai nữa tự
nguyện thắp lên ngọn đuốc ấy tại nơi đây (Huế) ? Là
một Tăng sĩ tu học từ các chốn già lam đủ đầy kiến
thức, ơn giáo dưỡng của thầy Tổ còn đây, mình phải làm
sao ?”.
Ngài
đã tự trả lời điều đó lúc chưa đầy mười ngày sau,
sau khi đã viết 4 bức thư để lại :
- Một
gởi cho Tổng thống Ngô Đình Diệm.
-
Một gởi cho toàn thể Tăng Ni tín đồ Phật giáo Việt Nam.
-
Một gởi cho thầy Bổn sư của Ngài.
-
Một gởi cho thân phụ cùng thân quyến.
Như
vậy, trước khi tuẫn đạo, Ngài không có một lời nào về
mình, người không nghĩ đến mình; chỉ nghĩ lo cho người
khác, cho những người còn sống. Đặc biệt về thân phụ,
Ngài viết : “... Con chết đi, Cậu sẽ phải đương đầu
với mọi đe dọa. Cậu đừng sợ, đừng xiêu lòng khi họ
dùng nhiều mánh lới khác, mà Cậu phải hy sinh hoàn toàn cho
Phật giáo, dù cho bản thân tứ đại của Cậu phải bị diệt
vong...” Lời của Ngài, mặc dù viết cho thân phụ, nhưng
cũng chính là viết cho toàn thể Phật giáo đồ chân chính.
Ngày
13 tháng 8 năm 1963, như để sáng ngọn lửa rực chiếu thấu
tận cõi u minh. Ngài đã tự thiêu thân vào lúc 01 giờ khuya
tại chùa Phước Duyên, thành phố Huế, tuổi đời 18 năm,
với 3 tuổi đạo tràn đầy nhiệt huyết Thích tử từ bi.