VỊ
PHÁP THIÊU THÂN
ĐẠI
ĐỨC
THÍCH
QUẢNG HƯƠNG
(1926
– 1963)
Đại
đức Thích Quảng Hương, pháp danh Nguyên Diệu, pháp hiệu
Bảo Châu, nối pháp dòng Lâm Tế Liễu Quán đời thứ 44.
Ngài thế danh Nguyễn Ngọc Kỳ, sinh ngày 28 tháng 7 năm Bính
Dần – 1926 tại xã An Ninh, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
Ngài
sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống tu Phật rất
thuần thành. Nhờ thế, ngay từ thuở niên thiếu, đã sớm
được sống trong sự yêu thương, đùm bọc bởi niềm tin
Phật đà cao đẹp đó. Làng xóm quanh vùng cũng qua đó mà
quý trọng và xem gia đình Ngài như một mẫu mực tốt để
phấn đấu giáo dục con em của mình.
Năm
Canh Thìn (1940) càng thuận duyên hơn khi người anh ruột của
Ngài được song thân cho xuất gia. Dù mới 14 tuổi, thế nhưng,
Ngài đã tỏ quyết tâm mai này sẽ nối gót người anh, nương
nhờ phước lực gia đình để tìm cầu Phật đạo, Ngài đã
tự cho rằng ngay giai đoạn này mình đã là một vị “xuất
gia” chưa mặc áo thiền gia. Điều đó nói lên cách sống
thuần thục đạo hạnh mà các kỳ trai giới, các buổi thọ
Bát Quan Trai luôn được Ngài tích cực tham dự và giữ gìn
nghiêm nhặt.
Song
hành với lối sống đó, Ngài còn có duyên trong các công việc
từ thiện địa phương, luôn đi đầu ở những nơi hiểm
nghèo, khát vọng tình tương thân tương ái. Ngài còn kiêm
luôn những công việc của một vị xuất gia là tổ chức,
điều hành các Ban Hộ Niệm từ thôn ấp đến tận quận
xa; quy tụ rất đông các thanh thiếu niên tham gia tụng niệm
và hộ niệm.
Năm
Quý Mùi (1943), nhận thấy cơ duyên hộ pháp, thực thi công
hạnh qua giai đoạn của một cư sĩ Phật tử đã đạt nhiều
thành tựu và đã có các đạo hữu khác kế thừa; ngày 26
tháng 5 năm 1943, Ngài quyết định đến cầu xuất gia với
Hòa thượng Minh Lý, trụ trì chùa Quang Sơn, thôn Phong Phú,
xã An Hiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, được Hòa thượng
ban pháp danh là Nguyên Diệu ( ).
Năm
Đinh Hợi (1947), Ngài hiệp lực cùng năm vị Đại đức khác
thành lập Chi hội Phật học tại thôn An Đức, xã An Thành,
huyện Tuy An ( ). Đây là một địa phương Phật học phát
triển chậm nhất trong tỉnh Phú Yên thời bấy giờ và nhờ
uy tín vang rộng khiến chư Tăng, Phật tử tại đây phải
tìm đến tài tổ chức khéo léo của Ngài.
Năm
Kỷ Sửu (1949), lúc 23 tuổi, Ngài cầu pháp và thọ Cụ túc
giới với Hòa thượng Liên Tôn, kế vị trụ trì chùa Quang
Sơn, được ban pháp tự là Quảng Hương, hiệu Bảo Châu.
Cùng năm ấy, sau khi thọ Cụ túc giới không lâu, Ngài lại
được nhận chức Thư ký chi hội Phật học xã An Hiệp.
Năm
Canh Dần (1950), do phải điều hành cùng lúc nhiều nhiệm vụ
và di chuyển liên tục để trực tiếp điều hành tổ chức,
sức khỏe Ngài có chiều hướng suy kiệt trầm trọng. Vì
thế, Ngài được khuyến cáo của chư Sơn và Phật tử ân
cần khuyên nhủ nên có thời gian tịnh dưỡng để sớm phục
hồi sức lực, hầu có điều kiện tiếp tục đạo pháp lâu
dài. Sau khi sắp đặt bàn giao các chức trách, Ngài đến Phan
Thiết để chữa bệnh.
Tháng
8 năm 1950, tuy chưa bình phục hoàn toàn nhưng Ngài vẫn lo ngại
tri thức Phật pháp chưa cao để hy vọng đảm đương các
trọng trách mai sau, nên Ngài xin nhập học tại Phật học
viện Hải Đức, Nha Trang. Từ cơ duyên này, sở học Phật
pháp của Ngài càng được nâng cao một cách nhanh chóng.
Từ
đó, Ngài lại chuyên tâm học tập trở thành một giảng sư
và đạt nhiều thành tựu đáng kể, được khắp nơi biết
đến. Đó là khoảng thời gian sau chấn hưng, Phật giáo phát
triển rất cần nhiều vị pháp sư tài giỏi cả về đức
lẫn trí, có tinh thần phóng khoáng và phù hợp; Ngài đã đáp
ứng được các tiêu điểm trên một cách rất xuất sắc.
Năm
Kỷ Hợi (1959), Ngài được Hòa thượng Thích Trí Thủ –
Giám Viện Phật học viện Nha Trang tin tưởng tiến cử làm
Giảng sư chuyên trách cho Tỉnh hội Phật giáo Đà Lạt. Như
vậy thuận duyên hoằng pháp của Ngài đã mở ra chân trời
thành tựu to lớn.
Năm
Tân Sửu (1961), Ngài được Hòa thượng Hội chủ Tổng hội
Phật giáo Việt Nam cử trụ trì chùa Khải Đoan và kiêm nhiệm
Giảng sư tại Tỉnh hội Phật giáo Ban Mê Thuột. Trách nhiệm
nặng thêm, nhưng Ngài vẫn tỏ ra vững chãi ý chí, không ngừng
vun bồi thêm đạo hạnh. Nhờ vậy hầu hết cư dân Phật
tử nơi này càng thêm tin yêu, quý trọng Ngài.
Năm
Quý Mão (1963), những tưởng từ nơi trú xứ này sẽ giúp
Ngài đạt nhiều thành tựu mới trong việc phục vụ chánh
pháp; thế nhưng một đại nạn đã xảy ra với Phật giáo
Việt Nam, bởi chánh quyền Ngô Đình Diệm muốn triệt tiêu
Phật giáo và loại trừ luôn ảnh hưởng của Phật giáo ra
khỏi xã hội Việt Nam – một hành động phi nhân đạo. Họ
đã thực hiện với nhiều thủ đoạn từ đe dọa rồi đến
cả khủng bố : máu đã đổ, lửa căm hờn đã ngùn ngụt
liên tiếp bùng lên, một người như Ngài không thể làm ngơ
hay phó mặc sự đời xoay chuyển.
Đã
có 5 ngọn lửa đấu tranh chân chính đó được thắp lên
bằng chính máu xương của những người con Phật, vốn luôn
mong cầu hạnh từ bi và cứu khổ giúp người. Thế nhưng
với tham vọng thiển cận, hẹp hòi, u tối, chính quyền Ngô
Đình Diệm càng ngoảnh mặt xem thường tất cả, để rồi
điên cuồng thực hiện kế hoạch triệt tiêu Phật giáo đồ
Việt Nam bằng chiến dịch “nước lũ” vào đêm 20.8.1963,
tấn công, phong tỏa các chùa chiền, bắt bớ và thủ tiêu
nhiều vị lãnh đạo Giáo hội Phật giáo .
Sau
sự kiện này, Bộ trưởng Ngoại giao Vũ Văn Mẫu trong nội
các của Ngô Đình Diệm xuống tóc, từ chức để phản đối
chính quyền ngày 21.8.1963; rồi Đại sứ Trần Văn Chương
tại Mỹ do quá xấu hổ về hành vi con gái ông là Trần Lệ
Xuân chủ động cùng Diệm – Nhu xúc phạm nghiêm trọng đến
Phật giáo, đã lên tiếng “từ con”, bị Diệm-Nhu cách chức
ngày 22.8.1963.
Trở
về nước, ông Trần Văn Chương và giáo sư Vũ Văn Mẫu đứng
ra trực tiếp ủng hộ phong trào sinh viên, học sinh vùng lên
chống đối Diệm – Nhu. Trước tiên là thành lập và ra tuyên
ngôn đấu tranh của Đại học Y Khoa ngày 23.8.1963 rồi đến
các trường Trung học như : Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn, Võ Trường
Toản, Gia Long, Trưng Vương v.v... Ngay cả các trường Pháp
như Jean-Jacques Rousseau, Marie Curie, Kỹ thuật Cao Thắng, Mỹ
thuật Gia Định... cũng nhất tề phản đối và đứng về
phía Phật giáo để ủng hộ công cuộc đấu tranh.
Khi
nữ sinh viên Quách Thị Trang bị bắn chết trước chợ Bến
Thành ngày 25.8.1963 thì làn sóng bãi thị, lãng công càng bùng
lên dữ dội và như vậy, Phật giáo đấu tranh cho nguyện
vọng bình đẳng tự do lại hóa thành cuộc cách mạng lớn,
không còn của riêng ai trước sự cai trị của chính quyền
Ngô Đình Diệm.
Đó
là một phần cuộc đấu tranh của Phật giáo đồ Việt Nam
diễn ra tại Sài Gòn khi Ngài đang có mặt tại đây. Sự cảm
khái chen lẫn chua xót, bùi ngùi đã dấy lên trong lòng Ngài
nhiều trăn trở, thầm mong đóng góp chút phần mình cho Phật
giáo trong những tháng ngày tang thương biến động ấy.
Tuy
nhiên, ước nguyện dấn thân giúp ích đạo pháp chỉ dừng
lại ở việc tham gia các cuộc tuyệt thực, biểu tình chống
đối. Trò hề: “bi kịch một mình” của hồi hai cảnh hai,
với tên gọi là “Ủy ban Liên hiệp Thuần túy Phật giáo”
mà đạo diễn không ai khác hơn là Ngô Đình Nhu. Ngài cảm
thấy xấu hổ cho những việc làm đó của họ, trong khi một
em nữ sinh 15 tuổi hồn nhiên là Quách Thị Trang mà còn biết
xả thân đối mặt với u minh ma chướng trước ánh mặt trời
đô thị, góp vào xương máu chung để bảo vệ chân lý Phật
giáo.
Do
tình hình lúc này các nhà lãnh đạo Phật giáo bị bắt hầu
hết, nhưng khắp mọi nơi làn sóng đấu tranh bất bạo động
vẫn tiếp tục dâng cao, bởi Phật giáo không còn con đường
lựa chọn nào khác. Vì vậy, nỗi lo của Ngài càng lớn hơn
thêm lên và tự nhủ phải làm sao nhanh chóng tiếp tục đánh
động lương tâm thế giới, góp phần nhỏ vào nỗi đau của
đạo pháp và sự bất hạnh của dân tộc Việt Nam.
Ngày
20.9.1963, khối Á-Phi đưa vấn đề “kỳ thị, đàn áp tôn
giáo tại Việt Nam” ra trước Đại hội đồng Liên hiệp
quốc, song đó mới chỉ là bàn luận, việc thực hiện hãy
còn xa. Trong thời gian ấy, biết bao đau thương bất công nữa
sẽ còn phủ chụp lên Phật giáo Việt Nam. Thêm vào nữa là
thái độ bưng bít mọi thông tin của Ngô quyền càng thêm
trầm thống. Do đó Ngài quyết định tự thiêu, vừa để
thúc hối, báo động cho Liên hiệp quốc, vừa là để cho
ngọn lửa đấu tranh tiếp tục bừng sáng thêm ý chí quyết
tâm.
Ngày
5.10.1963, dù chưa rõ Liên hiệp quốc có còn tích cực quan
tâm đến tình hình chính trị, xã hội ở Việt Nam nữa hay
không, nhưng Ngài tin rằng nhất định việc làm của Ngài
sẽ góp phần tác động không nhỏ vào tình thế đó. Sau khi
để lại huyết thư gởi Tổng thống Diệm và gởi cho toàn
thể Phật giáo đồ Việt Nam với nội dung “đấu tranh cho
đến cùng, khi nào quyền tự do căn bản được tôn trọng
mới thôi”. Vào lúc 12 giờ 5 phút cùng ngày, Ngài đến trước
chợ Bến Thành, nơi mà không bao lâu trước đó, nữ sinh Quách
Thị Trang đã ngã xuống trước viên đạn ác nghiệt bạo
quyền, tự châm lên ngọn lửa đốt cháy thân mình, thành
ngọn lửa thứ 6 của dũng lực, hy sinh thân tứ đại giả
hợp này để thành tựu tinh thần bất diệt của hạnh Bồ
Tát.
Năm
đó, Ngài hưởng 37 tuổi đời, 20 tuổi đạo, giới lạp trải
14 mùa Hạ.