VỊ
PHÁP THIÊU THÂN
THƯỢNG
TỌA
THÍCH
TIÊU DIÊU
(1892
– 1963)
Thượng
Tọa Thích Tiêu Diêu, pháp danh Tâm Nguyện, tục danh là Đoàn
Mễ, sinh năm Nhâm Thìn (1892) tại làng An Truyền (tức làng
Chuồn), quận Hòa Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế (cách thị
xã Huế 10km về hướng Đông Nam).
Gia
đình Ngài luôn được kính trọng trong xã hội, rất giàu
có nhưng sống khiêm tốn hòa đồng nên được lòng những
người chung làng. Ngay từ thời niên thiếu, Ngài đã sớm
chuyên cần trong việc trau dồi kiến thức và đã bộc lộ
tính chất thông minh qua các cách lý giải thời cuộc, nhận
định thế thái nhân tình, khiến những vị khách của thân
phụ Ngài trong những dịp đàm đạo, đối ẩm tại tư gia
đều khâm phục. Do đó, Ngài được song thân hết sức thương
yêu và luôn đặt để nhiều hy vọng mai hậu.
Năm
Kỷ Dậu (1909), Ngài phải vâng lời song thân thành lập gia
đình khi vừa tròn 18 tuổi. Được vun đắp và thừa hưởng
hạnh phúc trong niềm tin tưởng vô biên của một gia đình
có truyền thống thuần thành Phật đạo, các người con của
Ngài sau này cũng nương thừa phước báu ấy, sống hữu ích
cho đời, cho đạo một cách tích cực.
Năm
Canh Ngọ (1930), nhận thấy các con đều đã lớn khôn, sau
khi sắp đặt các mối liên hệ gia đình đầy đủ và ổn
thỏa, Ngài liền đến chùa Tường Vân tại làng Dương Xuân
Thượng cầu xin xuất gia với Hòa thượng Tịnh Khiết, được
ban pháp danh là Tâm Nguyện, pháp hiệu Tiêu Diêu. Năm đó Ngài
ba mươi chín tuổi.
Thời
điểm này, việc chấn hưng Phật giáo phát triển khắp ba
miền đất nước, tạo thành một phong trào học Phật rầm
rộ sau hằng bao năm dài mờ nhạt tiềm tàng bởi thực dân
đô hộ.Vì Ngài xuất gia muộn và đã có gia thế riêng nên
Hòa thượng Bổn sư đặt pháp danh cho Ngài là “Tâm Nguyện”,
đồng thời chấp thuận ước nguyện tự lực phấn đấu
tu học, cho đến nào khi tự thân Ngài cảm thấy xứng đáng
với tư cách một Tỳ kheo mới xin thọ giới. Đó là phong
cách rất đáng trân trọng nơi Ngài.
Năm
Nhâm Thìn (1952), Ngài được đăng đàn thọ Cụ túc giới.
Để có thời gian tu học, Ngài xin phép Hòa thượng Bổn sư
cho lên một nơi thanh vắng ở ngọn đồi sau vườn chùa Châu
Lâm, dựng một am tranh nhỏ để tiện nhập thất tu niệm.
Ngài
chọn nếp sống khổ hạnh thiểu dục tri túc, mỗi hai ngày
mới dùng một bữa ngọ. Ngài không ngại gian lao, thường
xuyên theo dự học tại các trường Phật học Tây Thiên, Linh
Quang...
Năm
Quý Mão (1963), năm mà tất cả những người lương thiện
còn chút lòng tự tôn dân tộc và Phật tử thiết tha với
đạo pháp đều không thể đứng ngoài cuộc, Ngài quyết định
đến chùa Từ Đàm, là trung tâm lãnh đạo phong trào Phật
giáo ở Huế để tiện việc dấn thân, tranh đấu cho 5 nguyện
vọng Phật giáo đồ Việt Nam. Không một cuộc biểu tình,
xuống đường, tuyệt thực hay cầu an cầu siêu nào cho cuộc
đấu tranh và cho những người hy sinh vì đạo pháp mà Ngài
không có mặt. Người dân cố đô Huế luôn thấy hình ảnh
vị Sư già yếu ấy, có mặt trước tiên và bền bĩ ở khắp
mọi nơi có làn sóng biểu thị.
Ngài
không quên mình là đệ tử của Hòa thượng Hội chủ Tổng
hội Phật giáo Việt Nam và là đương kim Lãnh đạo tối cao
Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo, người đã luôn tích
cực dấn thân nơi đầu sóng ngọn gió, chẳng quản tuổi
cao sức yếu. Tấm gương đó không chỉ để Ngài tự hào,
mà phải nghĩ đến việc tự thân phải làm sao cho xứng đáng
một người đệ tử của bậc cao Tăng khả kính ấy. Đó
vừa là cách báo đáp công ơn tiếp độ, vừa thể hiện trách
nhiệm người tu sĩ trước vận mệnh tối đen của đạo pháp,
dân tộc.
Tình
trạng đàn áp Phật giáo đồ khắp mọi nơi của chính quyền
Ngô Đình Diệm đã không ngừng mà còn gia tăng khốc liệt.
Những tin tức chẳng lành từ khắp nơi liên tiếp đưa về
khiến lòng Ngài càng thêm đau buồn lo ngại. Đặc biệt, ngọn
lửa hùng lực dũng trí của Hòa thượng Quảng Đức (11.6.1963),
tiếp đến là của Đại đức Nguyên Hương (04.8.1963), Đại
đức Thanh Tuệ (13.8.1963), Ni cô Diệu Quang (15.8.1963) đã làm
chấn động lương tri khắp cả nhân loại yêu công lý, tự
do và bình đẳng. Nhưng chỉ riêng gia đình nhà Ngô là vẫn
tiếp tục điên cuồng nhắm đến một kế hoạch lớn là
thủ tiêu Phật giáo. Thông tư mang tính nhân bản và từ bi
của Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo ngày 14.8.1963 nhằm
“kêu gọi Tăng Ni hạn chế tự thiêu cúng dường Tam bảo”
vẫn chưa đủ sức hạn chế sự căm phẫn, xót xa của hàng
triệu Tăng tín đồ khắp mọi nơi. Hơn thế nữa, bản thông
cáo chung giữa chính quyền và Phật giáo ký kết ngày 26.6.1963
mà người hạ bút ký vào đó không ai khác hơn là Ngô Đình
Diệm, nhưng Diệm đã phản bội bản thông cáo chung đó, khiến
Phật giáo đồ Việt Nam phải tiếp tục cuộc đấu tranh.
Trong
những tháng ngày tuyệt thực, đấu tranh, biểu tình, xuống
đường và cả những khi bị bắt bớ giam cầm, Ngài luôn
nghĩ phải tìm ra một phương cách phản kháng mạnh mẽ nhất
: tự thiêu thân để bày tỏ sự phản kháng của mình, hy
vọng làm bừng tỉnh lương tâm những kẻ chủ trương kỳ
thị và đàn áp Phật giáo.
Ngày
16 tháng 8 năm 1963, lúc 4 giờ sáng, ngay tại sân chùa Từ Đàm,
nơi lãnh đạo cuộc đấu tranh bất bạo động của Phật
giáo miền Trung, Ngài tự châm ngọn lửa thiêu đốt thân mình,
để soi sáng vô minh và nhắn nhủ hậu sinh về sự kiên cường
bất khuất, dũng lực trong mọi nghịch chướng.
Ngài
trụ thế 71 tuổi đời, với 32 tuổi đạo, để lại lịch
sử đấu tranh của Phật giáo nét son vĩnh cửu của một bậc
Vị pháp thiêu thân hiến dâng cho sự nghiệp chung.