HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THIỆN BẢN
(1884
– 1962)
Hòa
thượng Thích Thiện Bản (Tổ Cao Đà), pháp danh Thông Đoan,
thế danh Hoàng Ngọc Thụ, sinh giờ Dần ngày mồng 7 tháng
3 năm Giáp Thân (1884) tại làng Tử Mặc, huyện Ý Yên, tỉnh
Nam Định trong một gia đình nông dân có truyền thống mến
mộ đạo Phật. Ngài là con út của cụ Ngô Ngọc Luyện tự
Phúc Ứng (truyền thống dòng họ : sinh họ Hoàng, thác theo
họ Ngô), cụ bà Nguyễn Thị Xây hiệu Diệu Cao. Chị Ngài
là Ni sư chùa Bảo Sái – Yên Tử.
Năm
16 tuổi (Canh Tý – 1900), Ngài từ biệt song thân đến chùa
Diên Phúc, thị trấn Vân Đình, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây)
khất cầu xuất gia, thấy người tuấn tú lễ độ, nhất
tâm cầu đạo nên Thầy trụ trì chấp nhận cho tập sự xuất
gia. Trước đó, Ngài đã được theo học Nho với cụ Cử
trong làng và được cha mẹ dạy bảo giáo lý Phật đạo căn
bản, nên ngày 16 tháng 11 cuối năm, Ngài được cầu giới
Sa di tại chốn Tổ Bồ Đề, Gia Lâm, Hà Nội do Tổ đệ nhị
Quảng Gia làm Hòa thượng giới đàn. Cũng từ đây, Ngài được
Tổ cho làm thị giả tu học tại trường Phật học chùa Bồ
Đề. Năm sau 1901, Ngài được Tổ cho lễ Sư tổ Phổ Tụ
– Tế Xuyên tham học đạo thiền, ở đâu Ngài cũng được
thầy mến bạn yêu, chuyên trì giới luật, nghiêm thân tiến
đạo.
Năm
20 tuổi (Giáp Thìn – 1904), Ngài được nghiệp sư cho đăng
đàn cầu Đại giới tại Tổ đình Tế Xuyên ngày 15 tháng
2, theo học đắc pháp nơi tổ Phổ Tụ (đệ tam Tổ chùa Bảo
Khám, làng Tế Xuyên) với pháp danh Thông Đoan. Trải qua năm
năm nương thừa học đạo, Ngài không rời Thầy nửa bước.
Năm
Bính Thìn (1916) mở rộng tầm hiểu, Ngài xin phép Tổ Tế
Xuyên du tích tham phương học đạo nơi Tổ Thanh Hanh (Thiền
Gia Pháp Chủ Phật Giáo Bắc Kỳ) trải qua 10 Hạ tại chốn
Tổ Vĩnh Nghiêm.
Năm
Bính Dần (1926) Tổ Phổ Tụ thị tịch, Ngài từ biệt thầy
bạn trở về Tế Xuyên thụ tang, đền đáp công ơn giáo dưỡng
giới thân tuệ mệnh của Tôn sư.
Năm
Mậu Thìn (1928), Ngài nhận lời thỉnh cầu của nhân dân làng
Thượng Nông (huyện Lý Nhân, Hà Nam) trụ trì chùa Bảo Khám-Tế
Xuyên, trùng tu Bảo điện, Tổ đường nhất nhất trang nghiêm,
thiện tín quy y, Tăng Ni cầu pháp tham học vài trăm người.
Năm
Canh Ngọ (1930), Ngài giao chùa cho trưởng tử trụ trì, còn
Ngài đến trụ trì và xây dựng chùa Bà Hướng (thôn Cao Đà,
xã Nhân Mỹ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam). Năm sau Tân Mùi
– 1931, Ngài cùng nhân dân người hằng tâm, kẻ hằng sản
tôn tạo phạm vũ nguy gia tráng lệ như ngày nay (ngôi chùa
vốn có từ đời Trần lợp lá, vách đất, với truyền thuyết
mẹ con bà Hướng), đồ chúng tham học, kiết Hạ an cư trở
thành nơi hội tụ Tăng sinh lớn nhất vùng Nam Xương quận
Lý.
Ngài
còn trùng tu các chùa : Vạn Thọ (1932); Điện Bàn (1936), Đô
Quan (1942). Tuy Phật sự đa đoan nhưng công việc giáo dục
Tăng Ni vẫn được Ngài duy trì, ngoài ra còn phụ tá Hòa thượng
Doãn Hài (Tổ Tế Cát) duy trì nề nếp Tổ đình Tế Xuyên,
mở Hạ an cư hàng năm cho Tăng Ni sơn môn quy tụ. Ngài cũng
là bạn đồng hàng tâm đắc với Hòa thượng Tuệ Tạng (Thượng
thủ Tăng Già toàn quốc 1952) chung xây dựng Phật học Bắc
kỳ. Tờ báo Đuốc Tuệ ra đời, Ngài đóng góp trí tuệ tài
năng và vật lực duy trì tiếng nói của Bắc kỳ Phật giáo.
Năm
Mậu Tuất (1958), Ngài là Trưởng phái đoàn Phật giáo đến
yết kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Hà
Nội. Cũng năm này, Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam thành
lập, Ngài được Hội suy tôn trong Ban Chứng Minh Đạo Sư.
Đầu năm 1959, Hòa thượng Doãn Hài viên tịch, Ngài nhận
lãnh trách nhiệm thống lãnh sơn môn, làm chủ các khóa Hạ
tại Tổ đình Tế Xuyên, làm thầy Hòa thượng các giới đàn
của tỉnh Hà Nam.
Giờ
Thìn ngày mồng 10 tháng 5 năm Nhâm Dần (1962), sau 2 ngày thị
bệnh, Hòa thượng an nhiên xả báo thân, trải qua 79 năm ứng
tích Sa bà, 68 mùa kiết Hạ an cư.
Hòa
thượng Thích Thiện Bản đã để lại cho môn đồ đệ tử
và Tăng Ni hậu học đức tính khiêm cung, tinh thần hiếu học,
cần mẫn, nhiệt tình trong mọi công việc. Suốt đời vì
sự nghiệp đào tạo Tăng tài, mà kết quả đó thể hiện
trong số các đệ tử : Hòa thượng Thích Tâm Tịch (Pháp chủ
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam), Hòa thượng Trí Hải; Hòa thượng
Tâm Nguyện; Hòa thượng Tâm Thông... Nếu có ai đó qua các
ngôi già lam tự viện mà trong cuộc đời Ngài có tác phúc
hưng công, dừng gót ngắm cảnh, chiêm ngưỡng Phật đài tham
quan kiến trúc, tất cả có lẽ đều khâm phục tài năng kiến
trúc nghệ thuật nơi Ngài, thể hiện tinh thần tận tụy đối
với công việc phúc quả viên thành. Chính những thành quả
đó đã tô thắm cho danh thắng địa phương, góp phần làm
phong phú đa dạng nền văn hóa Phật giáo Việt Nam.