HÒA
THƯỢNG
THÍCH
DIỆU PHÁP
(1882
– 1959)
Hòa
thượng Thích Diệu Pháp, pháp danh Không Đàm, thế danh là
Lê Viễn, sinh năm 1882 (Nhâm Ngọ) tại làng Mỹ Thạnh, tổng
Nhơn Nghĩa, huyện Tuy Viễn, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định.
Thân phụ Ngài là cụ ông Lê Phước Đặng, thân mẫu là cụ
bà Phạm Thị Thình, đều là Phật tử thuần thành của chùa
Thập Tháp – Bình Định.
Ngài
sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống nho phong. Ngay
thuở nhỏ thường theo cha mẹ lên chùa Thập Tháp nghe kinh,
giảng đạo. Vốn gieo trồng thiện duyên nhiều đời, nên
năm 14 tuổi, Ngài đã xin song thân được xuất gia đầu Phật
với Hòa thượng Phước Huệ trụ trì chùa Thập Tháp, được
Bổn sư ban cho pháp danh là Không Đàm.
Năm
Canh Tý 1900 (Thành Thái thứ 12), Ngài được 19 tuổi, sau hơn
bốn năm khai tâm học đạo, Ngài xin phép Hòa thượng Bổn
sư được đi tham học các nơi để tăng tiến đạo nghiệp.
Nhân lúc này, có người chú là Hòa thượng Bửu Quang vào
Nam, Ngài liền tháp tùng và tiếp tục tu học tại chùa Linh
Tuyền nay là chùa Phước Minh, xã Mỹ Hòa, quận Cầu Ngang,
tỉnh Trà Vinh.
Năm
Tân Sửu 1901 (Thành Thái thứ 13), Ngài được Tổ Thập Tháp
gọi về cho thọ tam đàn Cụ túc giới tại Đại giới đàn
tỉnh Phú Yên, do chính Bổn sư làm Đàn đầu Hòa thượng,
Ngài được Tổ Thập Tháp ban pháp hiệu là Diệu Pháp.
Sau
khi thọ Đại giới được hai năm, Hòa thượng Bửu Quang viên
tịch, Ngài kế vị trụ trì chùa Linh Tuyền, để hướng dẫn
tín đồ tu học.
Nhận
thấy tuổi đời còn trẻ, tuổi đạo lại chưa nhiều, Ngài
quyết chí tầm sư học đạo để trau dồi tuệ nghiệp.
Ngài liền giao lại chùa cho huynh đệ đồng tu, một mình sang
chùa Tuyên Linh, xã Tân Hương, quận Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre
cầu học kinh luật với Hòa thượng Khánh Hòa.
Ngài
nỗ lực tu hành, nghiêm trì giới luật ở đây hơn 5 năm và
đến năm 1910, lúc 29 tuổi, nhân chùa Phước Sơn, xã Cẩm
Sơn, Bến Tre khai giới đàn, Ngài đến tu học và nhận chức
Tôn chứng sư cho các giới tử.
Năm
Tân Hợi 1911, Ngài giao hẳn chùa Linh Tuyền cho vị khác và
tiếp nhận chùa làng Long Bình ở tỉnh Trà Vinh, là tiền thân
của chùa Long Khánh hiện nay. Từ đây, cuộc đời sự nghiệp
hoằng dương Phật pháp của Ngài đã gắn chặt trên mảnh
đất này.
Năm
Đinh Mão 1927, sau gần 17 năm xây dựng, gắn bó với đồng
bào Phật tử chung sức tôn tạo, ngôi chùa mới được hoàn
thành. Ngài vâng lời Hòa thượng Bổn sư ở Tổ đình Thập
Tháp lấy tên hiệu là chùa Long Khánh.
Năm
Kỷ Tỵ 1929, chùa Phụng Sơn ở Chợ Lớn khai trường Kỳ,
cung thỉnh Ngài làm Yết Ma tại Đại giới đàn.
Năm
Tân Mùi 1931, Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học do Hòa thượng
Khánh Hòa và các vị tôn túc, cư sĩ thành lập tại chùa Linh
Sơn, Sài Gòn; Ngài được cung thỉnh làm Hội viên Tăng già
sáng lập, và nhận trách nhiệm phát hành tờ Phật Học bán
nguyệt san Từ Bi Âm cho Hội tại Trà Vinh cho đến khi Hội
giải thể.
Năm
Quý Dậu 1933, sau 2 năm hoạt động, do Hội Nam kỳ Nghiên cứu
Phật học không thực hiện được việc mở Thích học đường;
quý Hòa thượng miền Nam, đứng đầu là Hòa thượng Khánh
Hòa, lui gót về lục tỉnh sáng lập Liên đoàn Phật Học
Xã với mục đích chấn hưng Phật pháp, đào tạo Tăng tài.
Ngài hưởng ứng chủ trương của Liên đoàn, mở trường
gia giáo, tập họp hơn 60 vị Tăng trong chùa để giảng dạy
nội, ngoại điển. Ngoài ra, Ngài vận động tín đồ Phật
tử thỉnh Đại tạng kinh từ Trung Quốc về chùa để làm
tư liệu tham khảo cho Tăng Ni tu học.
Năm
Giáp Tuất 1934, Ngài cùng quý tôn túc như Hòa thượng Khánh
Hòa, Huệ Quang, Tâm Quang, Niệm Nghĩa và cùng một số Phật
tử giàu đạo tâm thành lập Hội Lưỡng Xuyên Phật Học
tại chùa Long Phước, ấp Thanh Lệ, Trà Vinh để hoàn thành
sứ mạng đào tạo nhân tài, hoằng dương chánh pháp. Cũng
trong năm này, Hội Lưỡng Xuyên cho ra đời tờ báo Duy Tâm,
khiến thực dân Pháp phải kiêng nể tiếng nói Phật giáo
bấy giờ và Ngài giữ chức vụ Phó Tổng Lý trong Ban trị
sự.
Từ
năm 1945 đến năm 1955, hưởng ứng lệnh của Ủy ban kháng
chiến Nam Bộ, Ngài cùng nhân dân địa phương tạm thời tản
cư sang chùa Phước Sơn. Chùa Long Khánh bị giặc Pháp chiếm
giữ hơn một năm, sau đó cảm thấy không ổn khi lòng dân
và các Phật tử sục sôi đấu tranh quyết liệt, chúng đành
phải trả lại cho Ngài.
Những
năm sau đó, tuy tuổi già nhưng Ngài vẫn đảm nhiệm mọi
Phật sự, đấu tranh chống sự áp bức cường quyền của
thực dân Pháp.
Ngày
28 tháng 6 năm Kỷ Hợi (1959), biết trước thời duyên đã
đến, sau khi dặn dò các chúng tiếp nối Phật sự, truyền
thừa Tổ ấn, cũng như việc trà tỳ tang lễ một cách đơn
giản, Ngài nhắm mắt thâu thần nhập diệt giữa ba hồi chuông
trống Bát nhã tiễn đưa. Ngài trụ thế 77 tuổi đời, hưởng
57 tuổi đạo. Đồ chúng xây dựng Bảo tháp tôn thờ Ngài
tại khuôn viên chùa Long Khánh.