HÒA
THƯỢNG
THÍCH
LIỄU THIỀN
(1885
– 1956)
Hòa
thượng Thích Liễu Thiền (còn gọi là Liễu Thoàn), pháp hiệu
Tu Trì, thuộc tông Thiên Thai Giáo Quán đời thứ 21. Ngài thế
danh là Nguyễn Văn Đo, sinh năm Ất Dậu (1885), tại làng Mỹ
Lệ (Chợ Trạm), huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Thân phụ
là cụ ông Nguyễn Văn Tín, thân mẫu là cụ bà Phan Thị Chí.
Gia
đình Ngài vốn theo đạo Minh Sư, rất mực nhân nghĩa, đạo
đức với đời. Năm lên 8 tuổi, Ngài được song thân cho
học với một danh nho nổi tiếng trong vùng. Vốn bản tính
thông minh lại thêm siêng năng, hiếu học nên chỉ trong ba
năm Ngài đã làu thông các bộ Tứ Thư, Ngũ Kinh, Minh Tâm của
Nho giáo. Tuy thông minh học giỏi nhưng Ngài lúc nào cũng khiêm
tốn, lễ độ, kính trên nhường dưới, hài hòa với bạn
đồng học nên được thầy yêu, bạn mến. Trong gia đình,
Ngài hết lòng hiếu kính mẹ cha, chia xẻ, gánh vác việc nặng
nhọc với anh em, dịu dàng, thân ái với thân quyến xóm làng.
Từ bé, Ngài được mọi người yêu thương, quan tâm, chỉ
bảo.
Năm
Giáp Thìn (1904), một trận bão kinh hoàng gieo đau thương tang
tóc khắp nơi. Hai huyện Cần Đước, Cần Giuộc bị tàn phá
nặng nề, cây ngã, nhà sập, xác người chết đó đây, nhân
dân trong vùng đói rét khốn khổ. Thảm trạng này đã đánh
động vào tâm thức non trẻ của Ngài, khiến Ngài nhận ra
rằng thế gian này vốn vô thường, tạm bợ mà kiếp nhân
sinh thì quá đỗi khổ đau. Cũng từ đây một bước ngoặt
tâm lý được mở ra. Ngài bắt đầu hướng tâm đến đạo
giáo, trường trai giới sát, tu nhân tích đức. Khi thiện duyên
chín mùi, Ngài đến chùa Vĩnh Nguyên (đạo Minh Sư) xin xuất
gia, thọ giáo với ông Lão Tiễn. Theo đạo Minh Sư, người
xuất gia không cắt tóc, chỉ đoạn trừ ân ái, tĩnh lặng
dụng công tích phép luyện đơn. Ngài ở đây, dưới sự dẫn
dắt của Thầy, chuyên tâm tu tập, khổ hạnh nhiều năm. Khi
công hạnh đã tinh thuần, Ngài được điểm đạo và tôn
xưng lên ngôi vị ông Lão.
Tháng
Giêng năm 1933 (Quý Dậu), do túc duyên nhiều đời với Phật
pháp, Ngài cùng phái đoàn bảy người trong đạo Minh Sư sang
Trung Quốc, lãnh thọ giới pháp của đức Phật do Tổ Hiển
Kỳ nhiếp hóa và khuyến tấn. Phái đoàn được Tổ Hiển
Kỳ, Tổ đình Thanh Sơn, cho lưu trú tại bổn viện và trong
suốt 15 ngày liền Tổ khai hóa chánh pháp, giảng giải tông
yếu của pháp môn cho mọi người. Sau đó, Tổ khai đàn truyền
Cụ túc giới cho cả phái đoàn. Đắc giới xong, Ngài được
Tổ ban pháp hiệu Liễu Thiền nối pháp tông Thiên Thai Giáo
Quán đời thứ 21, chính thức truyền sang Việt Nam.
Sau
đó Ngài cùng phái đoàn trở về Việt Nam. Về lại chốn
cũ chùa Vĩnh Nguyên, với tâm nguyện truyền bá chánh pháp
lợi lạc quần sanh. Ngài chuyển lối tu từ đạo Minh Sư sang
pháp tu của đạo Phật. Lấy kinh Pháp Hoa làm căn bản, mượn
pháp Tam Quán làm phương tiện. Và đây cũng là điểm khởi
thủy của Tông Thiên Thai Giáo Quán ở Việt Nam mà Ngài là
Sơ Tổ.
Cũng
trong thời gian này, ông Lão Tiễn quy tiên, kế đó song thân
Ngài cũng lần lượt từ giã cõi đời. Ngài phải lo chu tất
việc cúng tế thờ tự cho người thầy đầu tiên của mình,
cũng như việc an táng, siêu độ cho song thân, vẹn toàn hiếu
hạnh.
Tháng
4 năm 1933 (Quý Dậu), nhận lời thỉnh cầu của ông Cả Tiệm,
Ngài về trụ trì chùa Tôn Thạnh, xã Mỹ Lộc, huyện Cần
Giuộc, tỉnh Long An. Đây là một đại già lam u tịch, cổ
kính, do Tổ Viên Ngộ khai sáng năm 1807. Ngài cho sửa sang lại
tự viện, chỉnh đốn tông môn và một năm sau, năm 1934 (Giáp
Tuất) Ngài mở Đại trai đàn cầu quốc thới dân an, siêu
độ cho thập loại chúng sanh. Cũng trong năm này, Ngài khai
Đại giới đàn, cung thỉnh Giới sư tôn túc, truyền bá giới
pháp cho hơn 300 Tăng Ni, cư sĩ. Đây là một đàn giới trang
nghiêm long trọng nhất ở Long An từ trước đến nay.
Nhằm
giúp Tăng chúng thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, trong
suốt 20 năm (1934 – 1954) trụ trì tại Tổ đình Tôn Thạnh,
hàng năm Ngài đều mở khóa An cư kiết Hạ. Kính mộ uy đức
của Ngài, Tăng chúng quy ngưỡng về tụ học mỗi lúc một
đông hơn. Ngoài ra, Ngài còn có thông lệ, hằng năm vào ngày
17, 18, 19 tháng 2 Âm lịch, tức ngày vía Bồ Tát Quán Âm, Ngài
đều khai đàn truyền giới cho Tăng Ni, Phật tử.
Về
phương diện tu tập, Ngài tuân thủ tôn chỉ của tông Thiên
Thai, lấy tam pháp quán (Không quán; Giả quán; Trung quán) làm
pháp môn chủ yếu. Ngài còn chuyên tâm trì tụng kinh Pháp
Hoa và kinh Kim Cang. Về phương diện giáo hóa, Ngài tích cực
hiển dương pháp môn Tịnh Độ dạy người niệm Phật cầu
vãng sanh. Ngài hành trì giới luật rất tinh nghiêm. Để tu
tập thiền quán, Ngài không ăn chiều, không uống sữa bò,
đi bộ đường dài trên 20km, nhất quyết không ngồi xe để
ngựa kéo. Mến mộ giới đức của Ngài, trong các trường
Hương, chư tôn thiền đức thỉnh Ngài giảng dạy Luật tạng.
Và trong các lớp gia giáo, Ngài luôn được mời dạy các bộ
kinh Đại thừa.
Kính
ngưỡng đức hạnh của Ngài, biết bao người xả tục quy
chơn. Trong số đệ tử xuất gia của Ngài, đã có biết bao
vị trở thành pháp khí Đại thừa làm rường cột trong Phật
pháp như : Hòa thượng Đạt Hương, Viện chủ chùa Linh Phong
(Tân Hiệp, Tiền Giang), Hòa thượng Đạt Pháp, trụ trì chùa
Bồ Đề (Cần Giuộc, Long An), Hòa thượng Đạt Tân, trụ
trì chùa Phước Lâm (Củ Chi), Hòa thượng Đạt Đồng, trụ
trì chùa Đông Thạnh (Cần Giụôc, Long An). Về Ni giới có
Ni trưởng Đạt Lý, Viện chủ chùa Long Nhiễu (Thủ Đức),
Ni trưởng Đạt Cung, Viện chủ chùa Pháp Đàn (Gò Đen), Ni
trưởng Đạt Thuận, trụ trì chùa Linh Sơn (Bình Chánh)...
Rất nhiều thiện nam, tín nữ quy y nơi Ngài đều được Ngài
khuyến hóa tu tập theo pháp môn Tịnh độ, và có nhiều người
lúc lâm chung chứng nghiệm được điềm lành.
Ngài
tận tụy truyền thừa tông chỉ bổn môn nhưng vẫn hòa mình
vào đại thể Phật giáo, luôn cùng với các vị tôn túc trưởng
lão chung lo Phật sự, hết lòng hết sức, không tị hiềm,
không phân chia. Do vậy, Ngài rất được chư tôn thiền đức
quý kính. Chùa nào khai Hương, mở Hạ cũng cung thỉnh Ngài
chứng minh hoặc làm Thiền chủ. Đàn giới nào cũng thỉnh
Ngài ở vị Tam Sư, để truyền trao giới pháp cho đàn hậu
tấn.
Khi
phong trào chấn hưng Phật giáo được các Hòa thượng Khánh
Hòa, Khánh Anh, Huệ Quang khởi xướng và phát động mạnh
ở miền Nam, các lớp Phật học liên tiếp ra đời để đào
tạo Tăng tài, Ngài luôn được quý Hòa thượng mến mộ,
cung thỉnh vào ngôi vị:
-
Chứng minh Đạo sư Liên Hải Phật Học Đường.
-
Chứng minh Đạo sư Hội Phật Học Nam Việt (1955).
-
Chứng minh Đạo sư Hội Lưỡng Xuyên Phật Học (1934).
-
Chứng minh Đạo sư Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Nam Việt.
-
Chứng minh Đạo sư Phật Học Đường Nam Việt.
Có
thể nói Tổ đình Tôn Thạnh trong thời gian Ngài đương gia
khai hóa, thật sự đã biến thành một thánh địa cho Tăng,
Ni, Phật tử quy ngưỡng rèn trau giới đức. Trong số đó
có 2 vị cao Tăng : Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Hòa thượng
Thích Thiện Hòa, năm nào các Ngài cũng về đây tịnh tu một
thời gian, hoặc để nghiên tầm kinh, luật hoặc để trợ
giúp Phật sự với Ngài.
Năm
1950 (Canh Dần), cảm nghĩa ân khai tâm, mở trí của ông Lão
Tiễn, vị thầy đầu tiên, Ngài cho khởi công trùng tu lại
ngôi chùa Vĩnh Nguyên, chùa được hoàn tất trong năm, khang
trang, đẹp đẽ.
Năm
1955 (Ất Mùi), Ngài được gia tộc chùa Pháp Tánh nhường
cho một mẫu đất ở xã Tân Kim, huyện Cần Giụôc, tỉnh
Long An. Ngài khởi công xây dựng Tổ đình cho tông phái. Chùa
được hoàn tất khang trang, tráng lệ theo lối kiến trúc cổ.
Ngài đặt hiệu là Bồ Đề. Từ đây chùa Bồ Đề chính
thức là Tổ đình của tông Thiên Thai Giáo Quán, là nơi thờ
tự chư tiền bối tông môn mà cũng là chỗ quy ngưỡng của
Tăng tín đồ tông phái.
Khi
hoàn thành các tâm nguyện, Ngài vui vẻ đi thăm viếng tất
cả các già lam, trú xứ mà trước đây Ngài đã ở qua. Sau
chuyến đi này, sức khỏe Ngài yếu hẳn, biết trước lẽ
vô thường, Ngài gác bỏ vạn duyên để chuyên tâm niệm Phật.
Ngày
21 tháng 4 năm Bính Thân (1956), hóa duyên đã mãn, Ngài an nhiên
thị tịch, hưởng thọ 71 tuổi, 23 Hạ lạp. Tang lễ của
Ngài được tông môn Thiên Thai cử hành vô cùng trọng thể,
dưới sự chứng minh của chư vị tôn túc Giáo hội Phật
giáo Tăng Già Nam Việt. Nhục thân của Ngài được nhập tháp
tại Tổ đình Bồ Đề.
Hơn
20 năm tấn đạo nghiêm thân, hiển dương tông phái, hoằng
pháp độ sanh, công hạnh của Ngài to lớn biết bao ! Ngài
xứng đáng là Tòng Lâm thạch trụ, khai môn, mở phái, là
thiền môn quy cảnh cho tứ chúng đồng soi, là thềm thang lối
Phật cho hậu tấn noi theo.