HÒA
THƯỢNG
THÍCH
CHÁNH QUẢ
(1885
– 1956)
Hòa
thượng Thích Chánh Quả, pháp hiệu Ngộ Giác, truyền thừa
đời thứ 40 dòng Lâm Tế Đạo Mẫn. Ngài thế danh Phạm Văn
Ngưu, sinh năm Canh Thìn 1880 tại làng Tân Hòa, tỉnh Vĩnh Long.
Năm
Ất Mão 1915, giác ngộ thế gian vô thường, Ngài tìm đến
chùa Giác Hải (Chợ Lớn) xin quy y thế phát với Hòa thượng
Tổ Thích Từ Phong, được Tổ cho pháp danh là Chánh Quả,
pháp hiệu là Ngộ Giác.
Sau
khi xuất gia, dưới sự dìu dắt, dạy dỗ của Tổ Từ Phong,
Ngài chuyên tâm tu học kinh luật thiền môn, rèn trau giới
hạnh.
Năm
Bính Thìn 1916, Ngài được Tổ trao truyền Sa di giới tại
chùa Giác Hải. Kế đến, được Tổ cho đăng đàn thọ Tỳ
kheo-Bồ tát giới tại trường Kỳ chùa Giác Lâm cùng trong
năm này.
Năm
Mậu Ngọ 1918, nhờ học lực uyên thâm, giới đức minh tịnh,
Ngài được Tổ đề cử giảng bộ Long Thơ Tịnh Độ tại
đạo tràng chùa Giác Hải. Từ đó danh tiếng của Ngài được
Tăng Ni, tín đồ khắp lục tỉnh biết đến.
Năm
Nhâm Tuất 1922, Ngài được cung thỉnh giảng dạy Luật học
cho Tăng Ni an cư tại trường Hương chùa Long Phước, Vĩnh
Long.
Từ
năm Kỷ Tỵ 1929 đến năm 1950, Ngài về trụ trì chùa Kim Huê
(Sa Đéc). Tại đây, Ngài mở lớp gia giáo giảng dạy kinh
luật cho chư Tăng khắp lục tỉnh quy ngưỡng về tu học rất
đông. Đạo tràng đào tạo nhiều bậc cao Tăng đã góp phần
rất lớn trong phong trào chấn hưng Phật giáo như : Hòa thượng
Hành Trụ, Thiện Tường, Thới An, Huệ Hưng, Từ Nhơn...
Năm
Tân Mùi 1931, Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học do chư Hòa
thượng Khánh Hòa, Huệ Quang, Thiên Trường, Bổn Viên... thành
lập, Hội quán đặt tại chùa Linh Sơn (Sài Gòn). Ngài được
mời làm hội viên sáng lập.
Năm
Giáp Tuất 1934, Ngài được bầu làm Hội trưởng Hội Nam
Kỳ Nghiên cứu Phật học đến năm 1935. Trong thời gian này,
Ngài tham gia giảng dạy tại các trường Hương ở miền Tây.
Ngoài ra, Ngài cũng cộng tác viết bài cho tạp chí Từ Bi Âm,
tiếng nói của Hội.
Năm
Đinh Sửu 1937, khi Hội Lưỡng Xuyên Phật học được thành
lập tại Trà Vinh, Ngài được mời làm Chứng minh và cộng
tác viết bài cho báo Duy Tâm, cơ quan ngôn luận của Hội.
Năm
Bính Tuất 1946, do Ni chúng theo học rất đông mà chùa Kim Huê
chỉ đủ chỗ cho Tăng chúng, Ngài thành lập Phật học Ni
viện tại chùa Phước Huệ (Sa Đéc) để tập trung giảng
dạy cho Ni chúng.
Năm
Mậu Tý 1948, để tục diệm truyền đăng, Ngài khai Đại giới
đàn truyền giới cho học Tăng tại Phật học viện chùa Kim
Huê, giới tử có Hòa thượng Huệ Hưng, Trí Châu... thọ Cụ
túc giới trong đàn giới này.
Đương
thời, Ngài là một bậc cao Tăng rất nổi danh khắp miền
Tây lục tỉnh Nam kỳ nên Tăng Ni quy ngưỡng tựu về tu học
rất đông. Đệ tử xuất gia, cầu pháp với Ngài cũng rất
nhiều, đa số đã trở thành trụ cột của phong trào chấn
hưng Phật giáo như : Hòa thượng Huệ Hưng, Huệ Phát, Huệ
Thông, Huệ Hòa... chư Ni như : Ni trưởng Như Thanh, Như Ngọc,
Chí Kiên, Như Hòa, Như Nhẫn, Phước Hiển...
Năm
Bính Thân 1956, tuổi hạc đã cao, nhận biết duyên sắp mãn,
Ngài thu xếp mọi việc, phó chúc Phật sự cho đệ tử rồi
niệm Phật chờ ngày vãng sanh. Vào buổi trưa lúc 12 giờ ngày
13 tháng Giêng năm Bính Thân, Ngài an nhiên thu thần thị tịch
tại chùa Kim Huê, trụ thế 76 năm, công hạnh tròn 40 Hạ lạp.
Sự
nghiệp hoằng hóa Phật pháp suốt đời của Ngài đã trợ
duyên rất lớn cho phong trào chấn hưng Phật giáo tại miền
Tây Nam bộ, góp phần phát triển Phật giáo rộng khắp ở
giai đoạn nửa sau của thế kỷ.