HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TỪ NHẪN
(1899
– 1950)
Hòa
thượng Thích Từ Nhẫn, pháp húy Như Đắc pháp hiệu Từ
Nhẫn, nối pháp đời thứ 39 thiền phái Lâm Tế, dòng Đạo
Bổn Nguyên, Ngài thế danh Lê Ngọc Thập, sinh năm Kỷ Hợi
– 1899 (năm Thành Thái thứ 11) tại làng Long Hậu Tây, tổng
Phước Điền Hạ, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (nay là
tỉnh Long An). Thân phụ là cụ ông Lê Ngọc Trạch, thân mẫu
là cụ bà Nguyễn Thị Hội.
Ngài
sinh trưởng trong một gia đình mà nội ngoại đều chuyên
làm việc thiện, vun trồng cội phúc. Ngày nay, trên đường
quốc lộ 50 đi từ quận 8 xuống Gò Công, người ta phải
qua một cây cầu nổi tiếng từ lâu. Đó là cầu Ông Thìn.
Ông Thìn chính là nội Cao tổ của Ngài, húy danh là Lê Công
Thìn. Đương thời dân chúng qua lại sông Rạch Cát ở khu
vực này phải dùng đò ngang. Gặp những lúc mưa gió, hai bên
bờ sông bùn lầy trơn trượt, để tránh cho bà con thoát khỏi
cảnh ấy, ông Thìn đã tự xuất tiền của thuê người, mua
cây mua vật liệu, bắc một chiếc cầu để cho mọi người
qua lại mà không phải dùng đò ngang nữa. Từ đó, cây cầu
được mang tên Ông Thìn. Về sau cầu được người Pháp xây
bằng xi măng và ngày nay được Nhà nước xây lại kiên cố,
nhưng cái tên cầu Ông Thìn vẫn tồn tại mãi với quê hương.
Thân
sinh Ngài làm giáo viên trường Cần Giuộc, hết lòng đào
tạo lớp hậu tiến, truyền dạy đạo lý làm người, nhất
là truyền thống yêu nước của nhân dân ta nói chung, Cần
Giuộc nói riêng. Học trò của ông nhiều người thành đạt,
có nhân cách. Ngoại Tổ Ngài là bà Huỳnh Thị Sách, là người
rất đỗi nhân từ, thương kẻ khó giúp người hiền, cúng
chùa chiền, nuôi Tăng chúng, trong lân lý ai cũng quý mến.
Đặc biệt bà có lập một bến đò qua sông Rạch Dơi ở
làng Long Hậu Tây, để người chèo đò cho dân làng qua lại
mà không lấy tiền. Vì vậy, trong làng xóm người ta nói với
nhau : “Muốn qua sông thì đến bến đò bà Tổng Sách”.
Nguyên
từ lúc 4 tuổi, Ngài đã mồ côi mẹ, được bà ngoại đem
về nuôi. Kế thừa hai dòng máu đầy từ tâm ấy, Ngài đã
sớm giác ngộ con đường giải thoát của Như Lai ngay từ
lúc còn nhỏ tuổi. Năm 14 tuổi, khi đến chùa Giác Hải lễ
Phật, Ngài đã được Hòa thượng Như Nhẫn – Từ Phong khuyến
tấn khai thị pháp môn niệm Phật.
Nhờ
có tiền duyên ấy, Ngài sớm nhận thấy đời người đắm
chìm trong kiếp luân hồi sanh tử, nên không lưu luyến cảnh
nhà cao, đất rộng, của cải bạc vàng, vào ngày mùng 2 tháng
6 năm Ất Mão 1915, lúc được 16 tuổi, Ngài rũ bỏ tất cả,
âm thầm ra đi tìm thầy học đạo.
Ngài
đi đến chùa Linh Nguyên ở Đức Hòa, cầu xin Hòa thượng
Chơn Hương – Minh Phương thâu nạp làm đệ tử. Hòa thượng
thấy Ngài còn niên thiếu mà đã có lòng mộ đạo, nên chấp
nhận thế độ, đặt pháp hiệu là Từ Nhẫn. Từ đó Ngài
chuyên cần tu học, sốt sắng công quả hằng ngày, ham tìm
học kinh; luật; luận nên Hòa thượng Bổn sư rất thương
mến, thường riêng dạy truyền giáo pháp.
Năm
Mậu Ngọ (1918), nhân dịp chùa An Lạc ở thôn Hạnh Thông
Tây, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định, Hòa thượng Chánh Hạnh
khai trường Kỳ, Ngài được Bổn sư giới thiệu tới nhập
Kỳ thọ Sa di giới. Qua năm sau Kỷ Mùi (1919) tại chùa Diệu
Giác ở xã Bình Hòa, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định, Hòa thượng
Trí Thắng khai trường Kỳ, Ngài cũng được Bổn sư giới
thiệu đến nhập Kỳ xin thọ Cụ túc giới. Sau khi thọ giới
trở về, Ngài được Bổn sư đặt pháp húy là Như Đắc,
nối pháp đời thứ 39 dòng Đạo Bổn Nguyên. Lúc này Ngài
vừa tròn 20 tuổi.
Vào
ngày 27 tháng 10 năm Canh Thân (1920), nhân có lời thỉnh nguyện
của các đạo hữu chùa Thới Bình ở làng Phước Lại, quận
Cần Giuộc, Ngài được Bổn sư cử về đó trụ trì. Khi
Ngài về đây thì chùa đã dột nát nhiều, Ngài đứng ra vận
động thập phương đóng góp để trùng tu chùa được khang
trang, tạo nên cảnh già lam thắng địa nơi thôn dã. Từ ngôi
chùa này, Ngài Từ Nhẫn khởi bước hoằng dương chánh pháp,
đem lợi lạc đến cho chúng sinh, được nơi nơi biết đến.
Sau đây là đơn cử một số công đức của Ngài:
- Năm
Canh Thân (1920), Hòa thượng Quảng Phát ở chùa Phú Long làng
Phú Nhuận, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định mở trường Kỳ,
Ngài được thỉnh làm Đệ lục Tôn chứng.
- Năm
Tân Dậu (1921) ngày 10 tháng 10 Âm lịch, chùa Thiền Tông ở
thôn Bình Thạnh, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định mở trường
Kỳ, thỉnh Ngài làm Đệ tam Tôn chứng. Cùng năm ấy, Hòa
thượng Diệu Đại ở chùa Tịnh Độ làng Tân Sơn Nhất,
quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định mở trường Kỳ vào ngày 6 tháng
Chạp Âm lịch, thỉnh Ngài làm Đệ nhất Tôn chứng.
- Năm
Nhâm Tuất (1922), Hòa thượng Hoằng Nghĩa ở chùa Giác Lâm
làng Phú Thọ, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định mở trường Kỳ,
thỉnh Ngài làm Đệ nhất Tôn chứng. Cùng năm đó, ngày mồng
8 tháng 7 Âm lịch, Hòa thượng Ngộ Thông tại chùa Châu Long
làng An Bình Đông, huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho, mở trường
Kỳ thỉnh Ngài làm Đệ nhị Tôn chứng. Tại chùa Tam Bảo
làng Vĩnh Thanh Vân tỉnh Rạch Giá, vào tháng 9 Âm lịch, Hòa
thượng Trí Thành mở trường Kỳ, thỉnh Ngài làm Đệ tứ
Tôn chứng.
- Năm
Quý Hợi (1923), Hòa thượng Minh Giảng chùa Phước Lâm ở
Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh mở trường Kỳ, thỉnh Ngài làm
Đệ ngũ Tôn chứng. Cùng năm đó, ngày mồng 8 tháng 7 âm lịch,
chùa Sắc Tứ Tập Phước tại xã Bình Hòa, quận Gò Vấp,
tỉnh Gia Định mở trường Kỳ, thỉnh Ngài làm Đệ nhất
Giáo thọ.
- Năm
Giáp Tý (1924), Hòa thượng Như Hóa ở chùa Đại Giác làng
Nhị Hòa, quận Châu Thành, tỉnh Biên Hòa mở trường Kỳ,
cung thỉnh Ngài làm Đệ nhất Giáo thọ. Cùng năm ấy, sau
lễ Phật Đản, chùa Khánh Lâm ở làng Tân Sơn Nhất mở trường
Hương, thỉnh Ngài làm Phó Trị sự cùng chúng Tăng ở lại
an cư kiết Hạ.
- Năm
Ất Sửu (1925) tại chùa Sắc Tứ Phước Quang làng Phước
Lộc, tổng Nghĩa Hạ, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi ở
miền Trung, Hòa thượng Tăng Cang mở trường Hương, mời Ngài
làm Phó Duy Na cùng chúng Tăng an cư kiết Hạ. Đến ngày mồng
8 tháng 7 Âm lịch mãn Hạ, chùa mở tiếp trường Kỳ, Hòa
thượng Tăng Cang lại mời Ngài làm Thạc đức Giáo thọ.
Tại
trường Kỳ này, Ngài gặp được Thiền sư Tra Am - Viên Thành,
do mến đức tài đã mời Ngài ra kinh đô Huế dự lễ chúc
hộ vua Khải Định tại chùa Sắc tứ Báo Quốc, được Hoàng
Thái hậu Khôn Nghi hiệp cùng triều đình ban thưởng ngân
tiền, nhà vua xuống chỉ phong Ngài phẩm vị Hòa thượng và
biểu ngạch Sắc tứ Thới Bình tự. Thời gian ở Kinh đô
Huế, Ngài đã đến hội kiến Hòa thượng Tâm Tịnh, Hòa
thượng Hải Hội và thường lui tới đàm luận đạo lý với
Thiền sư Tra Am - Viên Thành ở chùa Ba La Mật.
Rời
kinh đô Huế, Ngài tiếp tục lên đường vân du ra Hà Thành
đất Bắc. Do tiếng tăm đạo đức của Ngài vang xa, lại
được các nhựt báo đưa tin vua Khải Định sắc phong, nên
đi đến đâu Ngài cũng được nghênh tiếp trọng thể. Viếng
thăm các Phật tự, danh lam và yết kiến chư Tôn đức xứ
Bắc một thời gian, cuối tháng Chạp năm Bính Thìn (1926),
Ngài xuống tàu thủy trở về miền Nam. Chuyến đi vân du Trung
Bắc của Ngài trải qua 10 tháng.
- Năm
Quý Mão (1927) chùa Long Khánh ở thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình
Định mở trường Hương, thỉnh Ngài làm Thiền gia Pháp chủ
Kiếm Bố Tát Hòa thượng. Khi mãn trường Hương, chùa mở
tiếp trường Kỳ, Hòa thượng Chánh Nhơn thỉnh Ngài làm Đệ
nhất Yết ma. Trước đó, nhằm ngày 16 tháng 2, chư Sơn và
quan viên, hương chức làng Phước Lại nhất tâm làm tờ thỉnh
nguyện, có viên chủ quận Cần Giuộc chứng thực, viên chủ
tỉnh Chợ Lớn chuyển đạt lên triều đình chiếu phê tôn
tặng Ngài là “Quốc Ân Đại Hòa Thượng”.
- Năm
Mậu Thìn (1928) tháng 4 Âm lịch, chùa Hưng Long ở ngã 6 Chợ
Lớn mở trường Hương, thỉnh Ngài làm Minh Đàn Hòa thượng.
Đến tháng Bảy mãn trường Hương, chùa mở tiếp trường
Kỳ, Hòa thượng Huệ Quang thỉnh Ngài làm Đệ nhất Yết
ma.
- Năm
Kỷ Tỵ (1929) tháng 4 Âm lịch, chùa Kiến Phước ở làng Vĩnh
Kim, tổng Thuận Bình, tỉnh Mỹ Tho mở trường Hương, Hóa
chủ là Bửu Thông Yết Ma, Chủ hương là Thiện Niệm Yết
ma chùa Viên Giác, cùng thỉnh Ngài làm Thiền chủ Hòa thượng,
ở lại cùng Tăng chúng an cư kiết Hạ 3 tháng và chưởng
quản thiền môn.
- Năm
Canh Ngọ (1930) nhằm ngày 19 tháng 2 Âm lịch, tại chùa Sắc
tứ Thới Bình có làm lễ lạc thành trùng tu và mở trường
Kỳ chúc thọ giới đàn, chư Sơn trong miền hiệp cùng quan
viên, hương chức tôn Ngài thăng vị Đường đầu Hòa thượng.
Tháng 4 Âm lịch cùng năm, chùa Viên Giác ở Bến Tre mở trường
Hương. Chủ Hương là Thiện Niệm Yết ma thỉnh Ngài làm Bố
tát Hòa thượng, đồng thời trường Hương ở chùa An Phước
ở Sa Đéc, Chủ Hương là Chánh Tín Yết ma cũng thỉnh Ngài
làm Bố tát Hòa thượng. Điều đó chứng tỏ đạo hạnh
và uy tín của Ngài trong chốn thiền lâm rất là cao trọng.
Nửa tháng ở Bến Tre, nửa tháng lên Sa Đéc, Ngài phải hành
cước khứ lai đem pháp vũ thấm nhuần cho Tăng chúng, khiến
trong giới Tăng già hay hàng tứ chúng thảy đều tán thán
công đức của Ngài. Đến ngày 20 tháng 10 Âm lịch, chùa Linh
Sơn Tiên Thạch ở núi Điện Bà tỉnh Tây Ninh mở trường
Kỳ, Hòa thượng Chánh Khâm thỉnh Ngài làm Chứng Đàn Hòa
thượng.
- Năm
Quý Dậu (1933) vào ngày 12 tháng 3 Âm lịch, chùa Giác Viên
ở Chợ Lớn mở trường Kỳ, Hòa thượng Thạnh Đạo thỉnh
Ngài làm Chứng đàn Hòa thượng. Ngày 8 tháng 4 năm đó, chùa
Giác Hoàng ở làng Tân Thới Nhứt, tổng Bình Thạnh Hạ, tỉnh
Gia Định (Bà Điểm) mở trường Hương. Chủ Hương là Yết
ma Bửu Đạt thỉnh Ngài tái vị Thiền chủ Hòa thượng chưởng
quản bên Tăng giới An cư kiết Hạ ba tháng. Đến ngày 11
tháng 8, chùa Sắc tứ Thiên Tôn ở Thủ Dầu Một mở trường
Kỳ, Hòa thượng Từ Phong thỉnh Ngài làm Chứng đàn Hòa thượng.
Năm
Giáp Tuất (1934) chủ chùa Đông Thạnh, ở làng An Đông Xã,
quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định là Tỳ kheo ni Diệu Thọ hiệp
với bà Montel thiết lập thủy lục trai đàn cầu siêu cho
những kẻ bạc số chết đuối trên các sông rạch từ Tây
Ninh, Gò Dầu, Trảng Bàng, Lộc Giang, Bến Lức, Thủ Thừa,
Nhựt Tảo, Bến Ba, Bao Ngược, kinh Nước Mặn, Thủ Bộ, Cần
Giuộc, rạch Cát Hạ, Chợ Lớn đến Thị Nghè, cầu Bình
Lợi, Gò Vấp, Thủ Dầu Một, Bến Thế, Thủ Thiêm. Vì trai
đàn quá lớn, phạm vi cử hành lễ cầu siêu quá rộng, nên
phải xin phép và được sự chấp thuận của các viên chủ
tỉnh Tây Ninh, Gia Định, Thủ Dầu Một, chủ quận Hóc Môn,
Thủ Đức. Trai chủ đã cung thỉnh Giáo thọ Thiện Huệ chùa
Giác Tánh làm chủ sự, Ngài Từ Nhẫn làm Hòa thượng Chứng
minh. Trai đàn kéo dài trong 5 tháng 20 ngày, tổng cộng 23 tuần
lễ.
- Năm
Mậu Dần (1938) chùa Phước Thạnh ở Trảng Bàng mở giới
đàn do Giáo thọ Thiện Toàn chủ trì, thỉnh Ngài làm Chứng
minh kiêm Bố tát Hòa thượng.
- Năm
Kỷ Mão (1939) chùa Phước Chỉ ở Trảng Bàng, Yết ma Quảng
Vân mở giới đàn, thỉnh Ngài làm Chứng minh kiêm Trị sự
Hòa thượng.
- Năm
Canh Thìn (1940) chùa Thái Nguyên ở làng Bình Trưng, quận Thủ
Đức, tỉnh Gia Định mở giới đàn. Hòa thượng Thiện Huệ
làm Chủ Hương, thỉnh Ngài làm Chứng minh Trị sự kiêm Bố
tát Hòa thượng.
Trên
đây lược kê công đức hoằng pháp độ sinh của Ngài Từ
Nhẫn, khắp trên các miền đất nước, từ Thừa Thiên –
Huế vào đến miền Đông, miền Tây lục tỉnh. Trong lúc đó
Ngài cũng không quên kiến tạo và trùng tu các ngôi Tam bảo
để có nơi cho Tăng Ni tu hành và Phật tử chiêm bái tụng
kinh, nghe pháp. Ngoài việc trùng tu chùa Thới Bình ở làng
Phước Lại khi Ngài mới tới đây làm trụ trì năm 1923, Ngài
còn trùng tu chùa Linh Nguyên ở Đức Hòa, là nơi Ngài xuất
gia đầu Phật và là chùa Tổ nơi Bổn sư Ngài hành đạo,
đã bị mối mọt xuống cấp nhiều vào năm 1936.
Về
khai sơn tạo tự, Ngài đã lập ngôi chùa mới là Chưởng
Phước tự tại làng Long Hậu Tây là nơi sinh quán của Ngài
vào năm 1935, và chứng minh cho hàng Cư sĩ lập chùa mới Kỳ
Viên ở làng Phú Nhuận. Ngài còn lập hai ngôi tịnh thất
trong khuôn viên chùa Thới Bình năm 1932 và chùa Chưởng Phước
năm 1936, cả hai ngôi tịnh thất này đều được Ngài đặt
tên là “Linh Thoại Ứng tịnh thất” và “Từ Tâm tịnh
thất” là nơi hàng năm Ngài nhập thất khi không dự các
trường Hương.
Năm
Canh Dần (1950) sự vô thường sanh tử chợt đến với bậc
cao Tăng khả kính giữa lúc phong trào chấn hưng Phật giáo
đang nở rộ ở Nam kỳ lục tỉnh. Ngài thị tịch vào ngày
19 tháng 9 năm Canh Dần (1950), trụ thế 52 năm, giới lạp 31
mùa Hạ, để lại bao thương tiếc cho thiền lâm tứ chúng.
Bảo tháp của Ngài được dựng tại chùa Linh Nguyên, xã Đức
Hòa Hạ, huyện Đức Hòa. Linh vị Ngài được tôn thờ cho
đến ngày nay tại Tổ đường chùa Giác Lâm, quận Tân Bình.
Chính
do công lao đóng góp của Ngài cho Đạo pháp mà đương thời
tên tuổi Ngài được ghi vào thành tích hóa độ cùng với
nhiều danh nhân, thượng trí, đại đức trong một cuốn sách
nhan đề : “Kim Bửu Thư” với bức chân dung của Ngài phía
dưới ghi dòng chữ “Đại Giác Chí Tôn Quốc Ân đại Hòa
thượng”.