HÒA
THƯỢNG
THÍCH
PHƯỚC HẬU
(1862
– 1949)
Hòa
thượng Thích Phước Hậu, pháp húy Trừng Thịnh, pháp tự
Như Trung, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 42. Ngài thế danh Lê
Văn Gia, sinh năm Nhâm Tuất 1862 – nhằm Tự Đức thứ 15,
tại xã An Tiêm, huyện Đồng Quan, tỉnh Thái Bình.
Ngài
ra đời đúng vào năm quan Kinh lược Phó sứ Nam Kỳ Phan Thanh
Giản và Lâm Duy Hiệp thay mặt triều đình Huế ký “hòa
ước” với Pháp ngày 5 tháng 6, nhường 3 tỉnh miền Đông
Nam kỳ gồm: Định Tường, Biên Hòa và Gia Định. Đất nước
bước vào giai đoạn chịu ách đô hộ của ngoại bang mới.
Do
đó, tuổi thơ Ngài không được may mắn sống yên ấm dưới
mái gia đình, từng ngơ ngác trên đôi tay mẫu thân chạy lánh
nạn cùng hàng vạn người dân khác đến Huế trong những
ngày bất ổn.
Như
chân lý bao đời không thay đổi, mái chùa vẫn là nơi che
chở các số phận đau thương. Ngài ở lại chùa Diệu Đế
- Huế, những người khác lần lượt được người thân đến
đón về, còn Ngài thì không. Bù vào đó, Ngài được Hòa
thượng Tâm Truyền chùa Diệu Đế thương yêu chăm sóc tận
tình.
Ngài
đã được xuất gia làm Điệu, ngay từ thuở còn thơ ấu
dưới bàn tay đùm bọc thương yêu của Bổn sư thế độ
Hòa thượng Tâm Truyền ( ).
Càng
lớn lên, Ngài tỏ rõ một phong thái đĩnh đạc, không ỷ
lại, mà lúc nào xét đoán mọi việc trước hết đều tự
lượng đạo lực của mình, cho nên khi đến tuổi thọ Cụ
túc giới, Ngài cứ lần lựa mãi.
Cho
đến năm Giáp Ngọ 1894 (Thành Thái thứ 6), do Hòa thượng
Bổn sư quyết giáo, Ngài mới vâng lời đến thọ Cụ túc
giới tại Đại giới đàn chùa Báo Quốc được tổ chức
vào tháng 4 năm đó. Đại giới đàn này được mở rộng
thu nhận giới tử từ đèo Ngang trở vào nên rất đông giới
tử về thọ giới và thời gian diễn ra suốt một tuần lễ.
Giới đàn do Hòa thượng Tăng Cang Diệu Giác làm Đường đầu
Hòa thượng. Hòa thượng Hải Thiệu làm Yết ma và Hòa thượng
Linh Cơ làm Giáo thọ ( ).
Năm
Ất Mùi 1895 (Thành Thái thứ 7), Hòa thượng Bổn sư Tâm Truyền
được cử giữ chức trụ trì chùa Diệu Đế sau khi Tăng
Cang Diệu Giác viên tịch, nhiệm vụ Ngài trở nên nặng nề
hơn. Vào năm sau 1896, Hòa thượng Tâm Truyền lại kiêm nhiệm
trụ trì chùa Báo Quốc. Thế nên ở Diệu Đế mọi công việc
lớn nhỏ Ngài phải thay mặt giải quyết như một vị trụ
trì thực thụ. Và từ đó, Bổn sư càng tin tưởng phó thác
cho Ngài nhiều trách nhiệm quan trọng khác, đáng kể nhất
là dạy dỗ bước sơ cơ cho các lớp xuất gia gồm có nghi
lễ và Sa di luật.
Năm
Mậu Tuất 1898 (Thành Thái thứ 10), Hòa thượng Bổn sư Ngài
xin bộ Lễ triều đình trùng tu chùa Diệu Đế theo các báo
cáo của Ngài về tình trạng xuống cấp trầm trọng của
chùa đã lâu. Công việc được tiến hành vào tháng 6, Ngài
phải đứng ra thay mặt Hòa thượng Bổn sư lo liệu trong suốt
thời gian trùng tu đó.
Năm
Kỷ Hợi 1899 (Thành Thái thứ 11), khi Hòa thượng Bổn sư được
phong Tăng Cang chùa Diệu Đế, Ngài được đề nghị kế thế
trụ trì, nhưng Ngài từ chối, chưa dám đảm nhận trách nhiệm
bằng danh xưng ấy, muốn được tiếp tục hỗ trợ âm thầm
bên cạnh Bổn sư.
Năm
Mậu Thân 1908 (Duy Tân thứ 2), Ngài được Hòa thượng Bổn
sư phú pháp qua bài kệ dưới đây và ban pháp hiệu Phước
Hậu, húy Trường Thịnh, tự Như Trung :
Thuần
thành bổn tánh mỹ Như Trung
Tảo
tận trần tâm Đạo lý chung
Đức
thạnh tự năng mông Phước Hậu
Chơn
truyền y bát chấn tôn phong.
Năm Bính
Thìn 1916 (Khải Định thứ 1), Ngài được bộ Lễ triều đình
sắc ban trụ trì chùa Trường Xuân.
Năm
Kỷ Mùi 1919 (Khải định thứ 4) vào tháng 7, Ngài được chư
Sơn bảo cử trụ trì chùa Linh Quang.
Năm
Mậu Dần, Bảo Đại thứ 13 (1938), sau khi nghe bộ Lễ trình
tấu quá trình xuất gia đến những thành quả tu học của
Ngài được tiếng tốt khắp nơi, vua Bảo Đại sắc phong
chức Tăng Cang kiêm trụ trì chùa Báo Quốc.
Sự
kiện này, dưới triều Bảo Đại là một việc được xếp
vào diện “tế nhị”. Khi đã biết điều đó, chư Sơn môn
tỏ ra thờ ơ và bản thân Ngài cũng chẳng mấy thiết tha,
nếu không có tiếng nói của Đoan Huy - Từ Thái Hậu (tức
đức Từ Cung, mẹ Bảo Đại) thì cả vua tôi đều lâm vào
tình trạng “không nên có”.
Có
lẽ, đây là lần phong chức Tăng Cang cuối cùng của triều
Nguyễn và người đón nhận đó là Ngài, như đại diện nét
chấm phá của luật nhân quả qua một hành động tốt đẹp.
Nhờ vậy, trong số rất nhiều bài thơ Ngài sáng tác trong
thời gian này, có những bài như :
Tâm
thanh thiên hữu nguyệt
Tánh
tịnh hải vô ba
Viên
minh tàng nhất điểm
Phóng
xuất mãn sơn hà
Và với
chúng Tăng, Ngài để lại bài thơ nổi tiếng:
Kinh
điển lưu truyền tám vạn tư
Học
hành không thiếu cũng không dư
Đến
nay tính lại đà quên hết
Chỉ
nhớ trên đầu một chữ Như
Năm Kỷ
Sửu 1949, ngày 30 tháng 2, Ngài an nhiên thị tịch để lại
nhiều luyến tiếc của hậu thế, khi nhìn được lăng kính
thời cuộc đã lý giải những lời Ngài hằng dạy. Ngài thọ
87 tuổi đời là cũng ngần ấy tuổi đạo trắng trong với
55 Hạ lạp. Nhục thân được các đệ tử lập tháp tôn thờ
bên hữu trong khuôn viên chùa Linh Quang.