HÒA
THƯỢNG
THÍCH
BỬU ĐĂNG
(1904
– 1948)
Hòa
thượng Thích Bửu Đăng, pháp danh Hồng Lang, nối dòng Lâm
Tế Gia Phổ đời thứ 40. Ngài thế danh là Trần Ngọc Lang,
sinh năm Giáp Thìn 1904 tại xã Bình Mỹ, quận Gò Vấp, tỉnh
Gia Định (nay là huyện Củ Chi Tp.Hồ Chí Minh). Thân sinh của
Ngài là cụ ông Trần Văn Thểnh và cụ bà Phạm Thị Hoài,
gia đình thuộc thành phần nông dân, có truyền thống Phật
giáo nhiều đời, vì thế nên Ngài được song thân cho ở
chùa từ thuở ấu thời.
Nhờ
túc duyên nên chuông sớm mõ chiều nơi cửa thiền thấm nhuần.
Ngài lớn lên dưới sự dạy dỗ của Bổn sư là Hòa thượng
Chánh Hòa, ở chùa Vạn Đức, quận Gò Vấp, nên đã sớm
làu thông chữ nho và kinh kệ Phật gia. Khi tuổi thiếu niên,
Ngài đã được Bổn sư cho thế độ xuất gia, đặt pháp
danh là Hồng Lang.
Năm
Giáp Tý 1924, chùa Giác Viên – Chợ Lớn khai Chúc thọ giới
đàn, Ngài được Bổn sư cho đăng đàn thọ Cụ túc giới,
ban pháp hiệu là Bửu Đăng, nối pháp dòng Lâm Tế Gia Phổ
đời thứ 40.
Sau
khi thọ đại giới, Ngài ở lại chùa Giác Viên tu học một
thời gian. Trở về lại chùa Vạn Đức, Ngài được Hòa thượng
Bổn sư cử chức thủ tọa thay thế Hòa thượng quản lý
mọi công việc chùa, Ngài giữ trọng trách này ở chùa đây
trong 8 năm.
Năm
Nhâm Thân 1932, quan Tri phủ Lương Sơ Khai phát tâm muốn cất
một ngôi chùa tại làng Bình Hòa tỉnh Gia Định, cung thỉnh
Ngài đứng ra xây dựng và trụ trì ngôi Bảo tự này. Xây
dựng xong, Ngài đặt tên chùa là Hải Hội. Ngài ở nơi đây
hành đạo trong 9 năm, được chư Sơn trong vùng phong làm Giáo
thọ, bởi uy tín qua các trường Hương mà Ngài kiết Hạ.
Năm
Tân Tỵ 1941, được sự khuyến trợ của quan Tri phủ Lương
Sơ Khai, Ngài làm đơn xin dời ngôi chùa Hải Hội từ làng
Bình Hòa lên làng An Hội, tổng Bình Trị Thượng, Gò Vấp
cũng trên đất của quan Tri phủ. Ngôi chùa mới lấy hiệu
là Linh Sơn Hải Hội vừa rộng lớn và khang trang hơn ngôi
chùa cũ, vừa có vườn tược đủ để tự túc kinh tế cho
việc tu hành.
Chính
nơi đây, Ngài bắt đầu tham gia phong trào kháng Pháp của
các nghĩa sĩ yêu nước và tiếp sau là tổ chức cách mạng
Việt Minh. Để che mắt chính quyền thực dân, Ngài tổ chức
ra Hội Lân chùa Linh Sơn Hải Hội hằng ngày qui tụ thanh niên
trai tráng địa phương tham gia tập luyện võ nghệ để chống
giặc dướt lốt đội lân. Vì vậy, Ngài được mọi người
quen gọi là “Thủ tọa Lân”.
Năm
Ất Dậu 1945, sau khi cách mạng tháng Tám thành công, giặc
Pháp quay trở lại chiếm lấy 3 kỳ, lập ra chính phủ bảo
hộ. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày
19-8-1946, Hội Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ ra đời do Hòa thượng
Thích Minh Nguyệt làm Hội trưởng, Hội Phật giáo cứu quốc
tỉnh Gia Định được thành lập, Ngài được chư tôn đức
cử làm Hội trưởng, Hòa thượng Pháp Dõng làm Hội phó,
Hòa thượng Bửu Ý làm thư ký, Hòa thượng Thiện Hào làm
ủy viên Kinh Tài, trụ sở đặt tại chùa Tường Quang xã
An Phú Đông.
Năm
Đinh Hợi 1947, giặc Pháp chuẩn bị càn quét vào chiến khu
An Phú Đông. Tổ chức ra lệnh cho các vị cán bộ nòng cốt
di tản để tránh bị giặc bắt. Riêng Ngài vẫn ở lại bám
trụ giữ vững cơ sở để làm đầu mối liên lạc và tiếp
ứng cho chiến khu, dưới vỏ bọc “Thủ tọa Lân” ở chùa
Linh Sơn Hải Hội.
Năm
Mậu Tý 1948, ngày 29 tháng 8, trên đường từ trụ sở Hội
Phật giáo Cứu quốc ở chùa Tường Quang – An Phú Đông trở
về chùa Linh Sơn Hải Hội, do có sự chỉ điểm của mật
thám, Ngài bị giặc Pháp phục kích bắt giữ.
Ngày
02 tháng 9, sau 3 ngày bị tra khảo, Ngài vẫn nhất quyết không
cung khai bất cứ tin tức gì. Giặc Pháp đem Ngài ra địa điểm
cầu Tham Lương – Hóc Môn xử bắn. Sau đó chúng bắn phá
xóm làng và đốt cháy chùa Giác Ân – Tân Bình ở gần đó.
Nhục
thân Ngài được nhân dân và gia đình vớt từ rạch cầu
Tham Lương đem về xây Bảo tháp an táng trong khuôn viên chùa
Linh Sơn Hải Hội. Mặt trận Việt Minh và Hội Phật giáo
Cứu quốc tỉnh Gia Định đã làm lễ truy điệu Ngài trọng
thể không lâu sau đó.
Với
những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng giải phóng
dân tộc, Ngài đã được Nhà nước truy phong danh hiệu Liệt
sĩ và huân chương Độc lập hạng nhì.
Đối
với Phật giáo, cuộc đời Ngài có một hành trạng tiêu biểu
cho sự gắn bó giữa đạo pháp với dân tộc, hậu thế có
một anh hùng Liệt sĩ Phật giáo, được mang tên một con đường
ở quận Gò Vấp, Tp.Hồ Chí Minh lưu danh vào lịch sử.
Ngài
hy sinh năm 44 tuổi đời và cũng có bấy nhiêu năm sống nơi
cửa thiền môn, tròn 20 tuổi đạo.