GIẢNG
SƯ
THÍCH
TRÍ THUYÊN
1923
– 1947
Khi
kháng chiến giành độc lập bùng nổ, Tùng Lâm Kim Sơn đã
vào tình trạng điêu tàn hẳn. Tăng sĩ thì hoặc vào Nam, hoặc
tham gia kháng chiến chống Pháp ở khắp các tỉnh, hoặc về
Huế để lo củng cố Giáo hội Tăng già và củng cố Phật
học đường Báo Quốc. Nhưng lại có một vị Giảng sư trẻ
tuổi ở lại Tùng Lâm Kim Sơn, chịu mọi gian lao, đói khát
cực khổ vì chiến nạn với dân quanh vùng An Ninh, Lựu Bảo...
Giảng
sư đó là Thầy Thích Trí Thuyên, thế danh là Trần Trọng
Thuyên, sinh năm Quí Hợi 1923 tại xã Tịnh Long, huyện Sơn
Tịnh, Quảng Ngãi. Ở chùa từ thuở bé thơ, Ngài là vị “đồng
chơn nhập đạo” xuất gia với Đệ Lục Tổ Thiên Ấn Hòa
thượng Chơn Trung – Diệu Quang tại chùa Thiên Ấn, Quảng
Ngãi.
Với
tư chất thông minh khác người, Ngài được Bổn sư gởi đến
học lớp gia giáo Phật học tại chùa Long Sơn, huyện Sơn
Tịnh, Quảng Ngãi. Sau một thời gian, Ngài lại đến núi Thình
Thình huyện Bình Sơn thọ học ở chùa Viên Giác – Thanh Thanh
Sơn.
Năm
Giáp Tuất 1934, phong trào chấn hưng Phật giáo đang được
phát động rầm rộ tại Trung kỳ. Để đào tạo Tăng tài
làm trụ cột cho Giáo hội, chư Hòa thượng Giác Tiên và Ngài
Mật Khế đứng ra thành lập trường An Nam Phật Học tại
chùa Trúc Lâm – Huế, cung thỉnh Hòa thượng Phước Huệ
làm chủ giảng. Lớp này chỉ thu nhận 50 học Tăng, Ngài dự
thi tuyển và có mặt trong khóa học này cùng các vị Thiện
Minh, Trí Quang..., Ngài là một trong 6 vị Tăng sinh ưu tú đỗ
cả kỳ thi viết và vấn đáp.
Năm
Quý Mùi 1943, sau 9 năm chuyên cần học tập ở Phật học đường,
Ngài tốt nghiệp khóa Đại học Phật giáo đầu tiên của
phong trào chấn hưng Phật giáo, Ngài ở lại Huế tiếp tục
nghiên cứu giáo điển và thực tập diễn giảng thuyết pháp.
Năm
Giáp Thân 1944, khi Ngài 21 tuổi, được tấn đàn thọ Cụ
túc giới tại Đại giới đàn chùa Thuyền Tôn - Huế do Hòa
thượng Giác Nhiên làm Đàn đầu truyền giới. Sau khi lãnh
thọ giới pháp, Ngài được chư Hòa thượng trong Giáo hội
Tăng Già Thừa Thiên - Huế phân bổ cùng chúng Tăng đến Tùng
Lâm Kim Sơn hoằng hóa, tại đây Ngài đã trở thành vị Giảng
sư trẻ tuổi được đông đảo tín đồ tín nhiệm.
Năm
Ất Dậu 1945, sau cuộc cách mạng giành độc lập vào tháng
Tám, người Pháp trở lại tái chiếm Việt Nam, và khủng bố
ruồng bắt những ai đã ủng hộ phong trào độc lập không
chịu làm tay sai cho chính phủ bảo hộ. Những bài giảng pháp
của Ngài luôn mang tính đoàn kết dân tộc, ca ngợi độc
lập tự chủ, chống áp bức bóc lột theo tinh thần Bi Trí
Dũng của Phật giáo. Với lập luận vững chắc, tư thái đường
hoàng, Ngài hướng dẫn tín đồ vào một tương lai tươi sáng
của Đạo pháp – dân tộc.
Tinh
thần yêu nước, thương đồng bào của Ngài thể hiện rõ
nét qua hành động tham gia dạy học chống nạn mù chữ cho
nhân dân; tổ chức phong trào từ thiện quyên góp cứu trợ
nạn đói kém đang hoành hành đồng bào cả nước bởi cuộc
chiến gây ra. Tại Kim Sơn, Ngài đã nhịn bớt phần ăn của
mình để lấy gạo nấu cơm phát cho dân nghèo đói, việc
đó khiến cho mật thám Pháp theo dõi, cô lập Tùng Lâm Kim
Sơn.
Năm
Bính Tuất 1946, tất cả Tăng chúng Tùng Lâm Kim Sơn di tản,
Ngài tình nguyện ở lại giữ chùa, trường học và kinh sách,
cộng với việc không ít Tăng sĩ ở đây tạm xếp áo cà
sa thoát ly tham gia kháng chiến khiến cho hồ sơ Tùng Lâm Kim
Sơn và bản thân Ngài mỗi lúc thêm nặng nề dưới mắt người
Pháp và chính phủ bảo hộ.
Còn
lại một mình nơi Tùng Lâm Kim Sơn với những “đêm dài
u tối” như vậy, Ngài chẳng hề nao núng, vẫn giữ đúng
thanh quy chốn Già lam thường ngày, thể hiện tinh thần một
Phú Lâu Na giữa chốn nghịch duyên là nhiệm vụ của người
tu hành trước chân lý đã tôn thờ.
Vào
chiều chủ nhật ngày mồng 3 tháng 3 năm Đinh Hợi (23-2-1947),
thực dân Pháp đóng đồn ở Văn Thánh đã tràn qua mở trận
càn quét vùng Lựu Bảo – Kim Sơn. Bọn giặc lên chùa, Giảng
sư Trí Thuyên bị chúng bắt. Ngài đã dùng tiếng Pháp nói
với bọn chúng để cho Ngài cầu một thời kinh rồi hãy bắn.
Ngài ngồi kiết già uy nghi tụng kinh trước họng súng của
giặc. Thời kinh vừa xong, Ngài đã ngã gục trước những
phát đạn bạo tàn. Một đồng bào người Thiên Chúa giáo
ở An Vân, vô tình chứng kiến được cái chết của Giảng
sư Trí Thuyên, đã kể lại sự việc với lời bình phẩm:
“Tôi chưa bao giờ thấy được cái cảnh tử đạo nào cao
cả bi tráng như vậy”.
Năm
đó, Ngài vừa đúng 24 tuổi đời, 3 tuổi đạo. Dân trong
vùng đã an táng Ngài trong khuôn viên Tùng Lâm Kim Sơn xưa.
Ngày nay Giáo hội đã xây lại tháp của Ngài ở trước vườn
chùa, bên tay phải chánh điện, bia tháp nhìn về hướng Đông,
bên trên khắc chữ “Tăng Già Giáo Hội” ở dòng giữa có
sáu chữ lớn “Trí Thuyên Giảng Sư chi tháp”.
Tháp
của Giảng sư Trí Thuyên là một nơi chôn giữ dấu tích để
phát ra ánh sáng lý tưởng của con người chân quân tử phương
Đông : “Uy vũ bất năng khuất” và hơn thế biểu hiện
cho phong cách “Sống như Chánh Pháp, chết như Chánh Pháp,
nói năng như Chánh Pháp và yên lặng như Chánh Pháp” của
đức Từ phụ đã thuyết dạy từ ngàn xưa.