HÒA
THƯỢNG
THÍCH
HOẰNG KHAI
1883
– 1945
Hòa
thượng Thích Hoằng Khai, pháp danh Hồng Khê, húy Kiểu Đạo,
tự Thiện Minh, hiệu Hoằng Khai, thế danh Phạm Văn Tiểng,
sinh năm Quý Mùi (1883), tại làng Minh Lễ, tỉnh Quảng Trị.
Thân phụ là ông Phạm Văn Hữu, thân mẫu là bà Hồ Thị
Thị. Cha mẹ mất sớm khiến Ngài mồ côi từ nhỏ, sống
nương nhờ nơi người chú.
Năm
14 tuổi (1897), Ngài vào Nam tạm trú ở vùng Gia Định, vốn
giỏi võ, nên Ngài mở trường dạy võ làm kế sinh nhai. Do
bản tính hào hiệp, Ngài thường hay cứu giúp những người
thế cô, sức yếu, khiến bọn anh chị Sài Gòn – Chợ Lớn
đều kính phục tôn xưng Ngài là đại ca và không dám bức
hiếp những lương dân trong khu vực ấy nữa. Ngài sớm ý
thức được rằng những bất công xã hội không thể cải
tạo được bằng vũ lực, cũng như tâm địa xấu xa, độc
ác của con người không thể giáo hóa bằng đôi tay. Ngài
từ bỏ con đường võ nghiệp và dần chuyển sang cảm hóa
bằng lý lẽ và tình cảm, một thể hiện của đạo đức.
Ngài tin tưởng rằng, chỉ có đạo đức mới có thể cảm
hóa được lòng người và thực sự mang lại công bằng và
yêu thương cho xã hội.
Năm
20 tuổi (1902), Ngài đến chùa Bảo An ở Bà Chiểu, xin thế
phá xuất gia, được Bổn sư Thiện An đặt pháp danh Hồng
Khê (dòng Lâm Tế đời thứ 40). Hòa thượng trụ trì biết
lai lịch của Ngài nên lúc đầu có ngần ngại. Về sau, khi
đã nhiều phen thử thách, biết được thật tâm cầu đạo
của Ngài, Hòa thượng đã hoan hỷ thu nhận làm đệ tử và
đặt pháp tự cho Ngài là Thiện Minh. Về sau, Ngài cầu pháp
với Tổ Thiên Thai – Huệ Đăng, được Tổ đặt húy là
Kiểu Đạo – pháp hiệu Hoằng Khai.
Năm
Giáp Thìn 1904, chùa Khánh Quới, Cai Lậy, Mỹ Tho khai trường
Kỳ, Ngài được Bổn sư cho đăng đàn thọ tam đàn Cụ túc
giới. Vốn thông minh lại cần mẫn tu học, nên chẳng bao
lâu thiền môn Kinh luận Ngài đều làu thông, phạm tắc uy
nghi thảy tường tận. Lại thêm giới hạnh tinh nghiêm, đạo
tâm dõng mãnh nên trên được Hòa thượng mến yêu tin cậy,
dưới được các vị đồng phạm hạnh ngợi khen.
Khi
biết nhân duyên hóa độ của Ngài đã đến, Hòa thượng
Bảo An đã cho Ngài đăng đàn giáo chúng tại các trường
Hương ở Gia định, Mỹ Tho, Bến Tre. Từ đó tiếng tăm đạo
hạnh của Ngài càng lúc càng lan rộng. Nữ tín chủ Tư Diêm,
chủ chùa Hội Phước ở xã Tân Thạch, tỉnh Bến Tre, nhân
ngưỡng mộ đạo hạnh của Ngài, gặp lúc chùa chưa có thầy
hương khói, nên đã đảnh lễ Hòa thượng Bảo An thỉnh Ngài
về trụ trì. Hòa thượng hứa khả.
Ngài
rời đất Gia Định về trụ trì chùa Hội Phước ở Tân
Thạch, Bến Tre và bắt đầu sự nghiệp kế đạo khai lai
của mình. Chùa Hội Phước lúc bấy giờ chỉ là một am tranh
vách đất, xây cất sơ sài để thờ Phật, lau sậy mọc rậm
rạp. Khi về, Ngài đã cùng bổn đạo địa phương trùng tu,
dần dần ngôi Bảo tự ngày càng to lớn, khang trang.
Có
một giai thoại mà cho đến nay những Phật tử lão thành của
chùa vẫn còn truyền tụng : trong lúc thi công kiến thiết
chùa, một người thợ tên Ba Lung đang ngồi lợp trên nóc,
bỗng cây đòn tay bị gãy và làm ông này rơi xuống, mọi
người hoảng hốt, Ngài phóng tới như một mũi tên nhanh nhạy
chính xác đỡ ông thợ đứng xuống nhẹ nhàng trên mặt đất.
Từ đó mọi người mới biết được Ngài võ nghệ siêu quần.
Đã
kính trọng đức độ tu hành, lại thêm ngưỡng mộ võ công
tuyệt học nên những thành phần bất hảo ở địa phương
dần dần đều quy y với Ngài và trở thành Phật tử đắc
lực của chùa. Nhưng cũng với tiếng tăm này mà Ngài gặp
phải không ít khó khăn với nhà chức trách đương thời.
Lúc ấy, ở An Hóa có một ông quận trưởng mà dân địa
phương quen gọi là huyện Trụ, nghe tiếng Ngài là tay anh chị
ở đất Gia Định đi tu, thầm nghi Ngài mượn hình thức tôn
giáo để hoạt động chính trị, nên cho mời Ngài xuống huyện
đường thẩm tra.
Khi
gặp Ngài, huyện Trụ biết Ngài là tay bản lãnh thật sự
nên ngõ ý muốn kết nghĩa anh em. Nhưng huyện Trụ còn muốn
thử xem Ngài có thật tâm quyết chí tu hành hay không, nên
ông ta yêu cầu Ngài cho xem những hình xăm trên mình. Ngài
bằng lòng và vén tay áo lên cho quan huyện coi. Xem xong, huyện
Trụ lại tỏ ý muốn xin Ngài một vài hình xăm. Ngài cũng
bằng lòng và bình tĩnh lấy dao lạng những hình xăm trên
tay đưa cho huyện Trụ. Trước hành động trầm tĩnh gan dạ
của Ngài, huyện Trụ vô cùng kính phục. Biết được thật
tâm tu hành của Ngài nên từ đó về sau ông ta để yên cho
Ngài hoằng hóa độ sanh.
Phật
học uyên thâm, đức hạnh kiêm ưu, lại thêm võ nghệ cao
cường, tiếng tăm của Ngài mỗi lúc một lan xa. Tứ chúng
bốn phương, Tăng tục mọi miền đều quy ngưỡng, thọ học
rất đông. Chính nơi Tổ đình Hội Phước, biết bao lần
Ngài khai trường Hương giảng dạy cho Tăng Ni, Phật tử; mở
trường Kỳ tiếp dẫn hậu lai, chọn người làm Phật. Biết
bao bậc cao Tăng làm lương đống trong Phật pháp đã được
đào tạo nơi đây, trong số đó có vị hóa duyên đã mãn,
có vị vẫn còn trụ thế độ sinh, có vị tuổi thọ vượt
ngoài bách tuế như Hòa thượng Từ Quang ở Bà Chiểu, Hòa
thượng Hội Long ở Long An. Ngoài ra, còn có những danh Tăng
thạc đức khác mà Tăng, Ni hai tỉnh Tiền Giang, Bến Tre đều
kính ngưỡng như Hòa thượng Phú Thuận ở Bến Tre (đã viên
tịch), Hòa thượng Phật Quang (Bến Tre), Hòa thượng Thiện
An (Tầm Vu), Hòa thượng Thiện Bình ở Cai Lậy (đã viên tịch).
Tại
đạo tràng Hội Phước, Ni chúng được Ngài hóa độ và đào
tạo rất đông. Đã có biết bao danh Ni mà đạo đức xứng
đáng làm thiền môn quy cảnh cho Ni chúng truyền đời; như
Sư bà Như Hương ở Từ Nghiêm, Sư bà Sắc Tứ ở Soài Hột,
Sư bà Phổ Đức ở Tân Hương, Sư bà Vạn Phước ở Kim Sơn...
Có
thể nói Tổ đình Hội Phước trong thời kỳ giáo hóa của
Ngài là một đạo tràng tu học của Tăng, Ni rất sùng thịnh.
Riêng Ngài còn là Pháp sư giảng dạy kinh Pháp Hoa, luật Trường
hàng và bộ Qui Nguơn Trực Chỉ.
Năm
Bính Dần 1926, Ngài khai trường Hương tại chùa Hội Phước,
thỉnh Hòa thượng Từ Văn, chùa Hội Khánh, Thủ Dầu Một
làm pháp sư giảng kinh Pháp Hoa. Sau Hòa thượng Từ Văn cử
Hòa thượng Thiện Tòng, chùa Khánh Quới, Mỹ Tho thay thế.
Năm
Bính Tý 1938, Ngài mở trường Hương, khai trường Kỳ tại
chùa Hội Phước. Chính Hòa thượng Hội Long (Long An) thọ
Cụ túc giới trong đàn giới này.
Năm
Kỷ Mão 1939, ông cả Huy, bác của Sư bà Thiên Phước, Tân
Hương thỉnh Ngài về trụ trì chùa Thiên Phước.
Năm
Canh Thìn 1940, Ngài khai trường Hương, mở trường Kỳ tại
chùa Thiên Phước. Ngài làm chủ hương, Hòa thượng Phước
Tường làm thiền chủ, Hòa thượng Khánh anh làm Pháp sư bên
Tăng, Sư bà Diệu Kim, Cần Thơ làm Pháp sư bên Ni. Khi mãn
đàn giới, Hòa thượng Khánh Anh có tặng cho Ngài một tấm
biển: “Hương Phong Giới Nguyệt”, này vẫn còn treo nơi
Tổ đình Hội Phước.
Năm
Tân Tỵ 1941, do sức khỏe kém, Ngài rời chùa Thiên Phước,
trở về Tổ đình Hội Phước để chuyên tu và dưỡng bệnh.
Năm
Ất Dậu 1945, Ngài lâm bệnh nặng và vùng Tân Thạch lúc bấy
giờ lại loạn lạc không yên, nên hào phú Lâm Tấn Tài ở
Vang Quới, Bình Đại, Bến Tre thỉnh Ngài về đây tịnh dưỡng.
Ngài đề nghị cất cho Ngài một tịnh thất. Thất đang xây
dựng Ngài nói với thị giả: “Thất làm xong chưa ? Ta sắp
bỏ nó ta đi”. Khi thất làm xong, Ngài vào nhập thất được
vài hôm thì viên tịch. Lúc ấy nhằm ngày 11 tháng 11 năm Ất
Dậu. Ngài hưởng thọ 63 tuổi, hành đạo 41 mùa Hạ.