HÒA
THƯỢNG
THÍCH
ĐẠI TRÍ
(1897
– 1944)
Hòa
thượng Thích Đại Trí, pháp hiệu Nhơn Duệ, pháp húy Trừng
Thông, pháp tự Công Thắng, thế danh là Huỳnh Huệ, sanh ngày
17 tháng 10 năm Đinh Dậu (1897) tại làng Phú Hòa, tổng Hiệp
Trung, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Thân phụ và thân
mẫu của Ngài đều là người đức hạnh, chuyên trì trai
giới, tu niệm tại gia.
Sinh
trưởng trong một gia đình thâm tín Tam Bảo, Ngài có 4 anh
chị, thân sinh và hai người anh cả sớm khuất núi, còn lại
thân mẫu và mấy anh chị em đùm bọc thương yêu hòa thuận
lẫn nhau.
Thiếu
thời, Ngài được thân mẫu đưa đến quy y với Tổ Phổ
Xứ tại thảo am Đồng Nẫy, thôn Tân Hưng, huyện Ninh Hòa
và được Tổ đặt tên là Huỳnh Huệ. Sau Tổ Phổ Xứ về
trụ trì chùa Kim Long và viên tịch tại đây, kế thừa Tổ
Phổ Xứ là Tổ Phước Tường (1867-1932).
Lúc
này, Ngài vừa lên 6 tuổi, đã sớm phải chịu cảnh xa cách
người thân, sư phụ. Dù gặp phải trở duyên, thân mẫu Ngài
vẫn giữ nguyên ý nguyện là cho hai người con trai xuất gia
theo thầy học đạo.
Năm
lên 16 tuổi (1903), Ngài cùng với người anh xuất gia với
Tổ Phước Tường – Quảng Đạt. Nhờ tuệ căn minh mẫn,
đức tính khiêm cung, chỉ hai năm phụng Phật sự Sư, Ngài
đã sớm tỏ rõ thượng căn thượng trí. Thấy vậy, Tổ khuyến
khích Ngài vào Ninh Thuận tham học với Tổ Huệ Đạo chùa
Trà Bang và chùa Sắc Tứ Tây Thiên. Cũng trong thời gian này,
Tổ Phước Tường về làm Hóa chủ Tổ đình Thiên Bửu, làng
Điềm Tịnh, huyện Ninh Hòa.
Trong
thời gian tu học ở Phan Rang, Ngài chuyên cần nỗ lực tấn
tu, nên được Tổ Huệ Đạo phú cho pháp hiệu là Đại Trí.
Khi sở học và giới đức đã tạm vừa đủ, Ngài xin phép
Tổ được vân du tham cứu giáo điển các nơi để tích lũy
thêm kiến thức và kinh nghiệm cho việc giáo hóa độ sanh
sau này. Tổ rất hoan hỷ thuận tình. Trên bước đường du
hóa ở Đà Lạt, Sài Gòn, Ngài luôn luôn thể hiện tấm lòng
vô ngã vị tha, tùy duyên bất biến, khiến cho mọi người
con Phật ai cũng cảm mến kính phục.
Trong
lúc ấy, Ngài nhận được tin bào huynh của Ngài là Hòa thượng
Nhơn Nguyện viên tịch ở chùa Linh Quang, trên sườn núi Đại
An thuộc xã Diên Điền, huyện Diên Khánh. Khi về hộ tang
bào huynh Ngài có dịp báo đáp công ơn sanh dưỡng của thân
mẫu, vì người chị đã xuất giá theo chồng đồng thời
được gần gũi, phụng sự Bổn sư (Tổ Phước Tường), thời
gian này kéo dài đến 10 năm.
Năm
Nhâm Thân 1932, Tổ Phước Tường xã mãn báo thân, Ngài cư
tang trai tuần báo hiếu, cùng lúc ấy người chị ruột trở
thành quả phụ, nên Ngài nhờ người chị cung dưỡng mẹ
già. Ngài tiếp nối chí nguyện rộng bước vân du hoằng dương
đạo pháp, lúc ở Đà Lạt, lúc vào Sài Gòn (ngụ tại chùa
Pháp Vân, tục danh chùa Bà Đầm ở Phú Nhuận).
Năm
Giáp Tuất 1934, Ngài trở về lo tròn hiếu sự với Bổn sư
tại Tổ đình Thiên Bửu. Một năm sau đó, chư Tăng Phật
tử địa phương đã cung thỉnh Ngài khai Hạ an cư và mở
Đại giới đàn tại đây năm 1935.
Ngài
lần lượt trụ trì chùa Thiền Sơn (thôn Trường Lộc), chùa
Linh Quang (thôn Phước Sơn) và chùa Kim Long để hướng dẫn
Tăng tín đồ Phật tử Ninh Hòa tu học.
Khoảng
năm 1936-1937, thân mẫu Ngài quá cố, Ngài trở về quê lo hiếu
sự. Năm 1938 trước tấm lòng tha thiết thỉnh cầu của hàng
đệ tử, Ngài đã thuận tình vào làng Phú Lộc, xã Diên Thủy,
huyện Diên Khánh, Khánh Hòa để chứng minh công cuộc xây
cất chùa Thiên Quang.
Năm
Canh Thìn 1940, để phần nào đáp đền hồng ân Thầy Tổ
và trang nghiêm chùa cảnh làm nơi nương tựa tu học cho các
Tăng tín đồ huyện Ninh Hòa, Ngài đã trùng tu lại chùa Kim
Long.
Năm
Tân Tỵ 1941, tín đồ Phật tử ở Vạn Giã, huyện Vạn Ninh
lại khẩn cầu cung thỉnh Ngài chứng minh khai sơn chùa Di Đà
ở thôn Mỹ Long.
Công
việc hoằng pháp lợi sanh đã tạm đủ, Ngài trở về chùa
Thiên Quang phát nguyện tịnh tu nhập thất 3 năm từ 12 giờ
khuya ngày 18 tháng 7 năm Nhâm Ngọ, Tăng ni tín đồ nam nữ
hay tin Ngài nhập thất 3 năm, hầu hết phát tâm hoan hỷ và
tinh tấn tu niệm, đồng thời từng đoàn về chùa Thiên Quang
để đảnh lễ Ngài từ bên ngoài Thiền thất để trượng
thừa công đức.
Lúc
12 giờ khuya ngày 18 tháng 7 năm Giáp Thân (1944) trong khi các
hàng Phật tử xuất gia cũng như tại gia đang làm lễ cầu
an trong chánh điện, chờ giờ Thầy mãn nguyện xả thất,
thì bỗng nhiên từ thất của Ngài, một ngọn lửa sáng bừng
lên cả một vùng, khiến mọi người ai nấy đều kinh hãi
và âu lo, nhưng rồi tất cả bùi ngùi cúi đầu đảnh lễ
vì biết Ngài đã phát nguyện thiêu thân cúng dường chư Phật,
Ngài trụ thế 47 tuổi đời, gần 30 năm tuổi đạo.
Cả
cuộc đời của Ngài đã gắn liền với việc tu trì Phật
pháp từ thiếu thời cho đến lúc hóa thân, để hồi hướng
công đức viên thành Phật quả. Ánh đuốc ấy vẫn lan tỏa
mãi ngàn sau, trong lòng mọi người con Phật.