HÒA
THƯỢNG
THÍCH
BỔN VIÊN
1873
– 1942
Hòa
thượng Thích Bổn Viên, pháp tự Chơn Thành, thế danh Nguyễn
Văn Hượt, sinh năm Quý Dậu (1873) tại làng Bàng Long, tổng
Thuận Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang).
Ngài
sinh trưởng trong một gia đình trung lưu có truyền thống nhân
từ phúc hậu, là người con trai út sau hai người chị và
hai người anh, nên được cha mẹ chăm nom và thương yêu hết
mực. Việc học hành cũng được quan tâm hàng đầu – nên
với tư chất thông minh – Ngài đã sớm biết chữ nho lẫn
chữ quốc ngữ. Tuy là con út được nuông chìu, nhưng Ngài
rất hiếu thảo, luôn vâng lời cha mẹ.
Thời
cuộc xã hội từ lúc Ngài sinh ra cho đến khi trưởng thành
luôn xao động bất ổn, nhưng ít có gia đình nào hưởng được
sự bình an trọn vẹn như gia đình Ngài. Năm Quý Tỵ (1893),
khi bốn anh chị được cha mẹ lo cho an bề gia thất, kế đến
chuẩn bị tìm người mai mối để xây dựng gia đình cho Ngài;
thì cuối năm ấy Ngài âm thầm từ biệt gia đình, ra đi tìm
đường học đạo. Năm ấy Ngài vừa tròn 20 tuổi.
Từ
năm Giáp Ngọ (1894) đến năm Đinh Mùi (1907) Ngài đến Châu
Đốc, vào vùng núi Thất Sơn tìm thầy học đạo, quyết tâm
thực hiện chí nguyện xuất gia học Phật của mình. Tuy không
chọn pháp môn chuyên tu, nhưng hành trạng của Ngài trong thời
gian này như một mật hạnh chuyên cần, rất gần với mật
tông, kết hợp với các hiểu biết về thảo dược làm thuốc
nam, trị bệnh cho bá tánh quanh vùng rất đạt hiệu quả.
Từ đó y thuật của Ngài càng ngày được nâng cao dần với
tiếng tốt vang xa. Cuộc sống tu hành của Ngài rất khép kín,
ít biểu lộ, nên vẫn chưa rõ Ngài học đạo thọ giới với
ai; chỉ thấy Ngài thường hái rau trái và cây thuốc đem ra
chợ Nhà Bàn để đổi lấy gạo đem vào hang núi ăn; lo tu
thiền, trì chú, nuôi giữ đời phạm hạnh.
Năm
Mậu Thân (1908) từ ngọn núi Tà Lơn, Ngài quyết định trở
về thăm mẹ sau 15 năm cách biệt. Thời gian cũng đủ để
các sự kiện nguôi ngoai và Ngài đã vững bước trên lộ
trình tu Phật, không còn trở lực nào cản ngăn. Ngày 12 tháng
7, Ngài đã về đến nhà đúng lúc mẹ Ngài đang lâm bệnh
nặng. Ngài dùng hết tài y thuật của mình, tự tay chữa bệnh
và hốt thuốc cứu chữa, một mặt lập đàn tràng khấn nguyện,
xin được giảm thọ mười năm để mẹ sống thêm với đời
mười năm nữa.
Với
trí tuệ của người con Phật và với bản chất vốn rất
hiếu từ, Ngài cố gắng bằng mọi phương tiện để được
gần gũi chăm sóc cũng như hướng dẫn nẽo tu cho mẹ (do thân
sinh đã mất lúc Ngài vừa 14 tuổi). Cuối năm ấy các chức
sắc trong làng tìm đến thỉnh Ngài đứng ra nhận lấy ngôi
chùa Bửu Long vốn bị hoang phế lâu nay. Nhận thấy cơ duyên
sớm đưa đến rất vẹn vẻ đôi đàng, Ngài hoan hỷ nhận
lời và thu xếp cho mẹ cùng về chùa để tiện việc chăm
nom, hướng dẫn tu học. Nhờ công đức tu tập, tiếng thơm
hiếu đễ và đặc biệt là tài bốc thuốc chữa bệnh của
Ngài, không lâu sau chùa Bửu Long nhanh chóng biến thành chốn
già lam hưng thạnh, được nhiều Phật tử đến tu học và
lễ bái thường xuyên.
Năm
Canh Tuất (1910) nhận thấy trọng trách mai sau đã dần đưa
đến và để có thể tiếp Tăng độ chúng đúng giới luật,
Ngài đến chùa Phước Linh ở Thạnh Phú, Xoài Hột xin cầu
pháp với Hòa thượng Thục Thiện, thuộc dòng Thiền Lâm Tế
Trí Thắng ( ), được đặt pháp danh là Bổn Viên, pháp tự
là Chơn Thành.
Năm
Nhâm Tý (1912) trong các khóa Hạ và các trường Kỳ thời gian
này, Ngài thường được cung tiến ngôi vị Yết Ma A Xà Lê.
Năm
Nhâm Thân (1932) Ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn
đầu tại trường Kỳ giới đàn chùa Minh Đức, Phú Túc –
Bến Tre. Từ đây, Ngài hội lực cùng quý Hòa thượng Khánh
Hòa (chùa Tuyên Linh – Bến Tre), Hòa thượng Thiện Chiếu
(Gò Công), Hòa thượng Thiên Trường (chùa Bửu Lâm), Hòa thượng
An Lạc (chùa Vĩnh Tràng)... xúc tiến khởi phát phong trào chấn
hưng Phật giáo. Khi Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học được
thành lập tại chùa Linh Sơn (Sài Gòn) Ngài tham gia với tư
cách là sáng lập viên, cộng tác với báo Từ Bi Âm, tạp
chí của Hội.
Năm
Đinh Sửu (1937) Ngài cùng với các Hòa thượng trong phong trào
chấn hưng, đồng sáng lập Hội Lưỡng Xuyên Phật học tại
Trà Vinh cùng với tạp chí Duy Tâm.
Năm
Canh Thìn (1940), Ngài tổ chức trường Hương tại chùa Bửu
Long với quy mô lớn nằm trong chủ trương của phong trào chấn
hưng Phật giáo, với sự tham dự của hầu hết danh Tăng lãnh
đạo trong vùng. Tuy nhiên, khi gần đến ngày khai mạc thì
chánh quyền thực dân tìm cách cản trở, không cho tổ chức
vì phong trào cách mạng đang sôi sục khắp nơi.
Ngày
23 tháng 11 cùng năm, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, chùa
Bửu Long và Đình Bàng Long trở thành một trong nhiều nơi
che giấu cán bộ. Ngài cho xuất bồ lúa của chùa (khoảng
60 giạ) đóng góp cho lực lượng cách mạng. Ngày 2 tháng 12,
thực dân Pháp ruồng bố tại Vĩnh Kim, thả bom vào chợ làm
chết hơn 40 người và bao vây chùa Bửu Long lẫn đình Bàng
Long bắt Ngài đem đi.
Năm
Nhâm Ngọ (1942) sau khi được thực dân Pháp thả ra, sức khỏe
Ngài suy kiệt do những ngày tháng tù đày và bị tra tấn,
cộng vào sức yếu tuổi già, nên lúc 10 giờ ngày 24 tháng
Giêng năm ấy, Ngài đã viên tịch tại chùa Bửu Long, hưởng
thọ 69 năm, với 32 năm hành đạo.