HÒA
THƯỢNG
THÍCH
PHƯỚC CHỮ
1858
– 1940
Hòa
thượng Thích Phước Chữ, pháp danh Thanh Thái, thế danh Nguyễn
Huấn, sinh ngày 05 tháng 5 năm Mậu Ngọ, Tự Đức thứ 11 (1858),
tại làng Đa Nghi, tỉnh Quảng Trị, thuộc dòng thiền Lâm
Tế đời thứ 41.
Thân
phụ Ngài là cụ ông Thanh Đức, thân mẫu là cụ bà Võ Thị,
gia đình thuộc thành phần trung nông, có lòng tín hướng Phật
đà nhiều đời. Ngài là con trai thứ ba trong số 4 người
anh em trai ( ).
Năm
Canh Dần, Tự Đức thứ 13 (1860), lúc này giặc Pháp đã thật
sự nổ súng và xâm chiếm đất nước từ Bắc chí Nam, các
phong trào nghĩa quân nổi lên chống ngoại xâm khắp đó đây.
Gia đình Ngài vì có nhiều thanh niên nên bị dòm ngó từ nhiều
phía. Phụ thân Ngài phải vào chùa Xuân Tây sống đời ẩn
tu và khuyên các anh em Ngài hãy phân tán mỗi người một nẻo.
Thân mẫu Ngài từ đó do lo âu, buồn khổ đã qua đời khi
Ngài vừa mới hai tuổi.
Tuổi
thơ Ngài không có niềm vui, bởi đã sớm chịu màu tang tóc
chung của đất nước. Khắp nơi, những lời than oán của
tầng lớp sĩ phu, những người quan tâm đến thời thế, trước
những bước chân rầm rập và ngày càng gia tăng của đội
quân xâm lược Pháp. Sự việc đó luôn ghi đậm vào tâm khảm
Ngài khi đã biết suy tư.
Năm
Tân Mùi, Tự Đức thứ 25 (1872). Một sáng đầu mùa hè, Ngài
đến chùa Diệu Đế với những nỗi băn khoăn ấy, bộc bạch
cùng Hòa thượng Tăng Cang Diệu Giác (1806 – 1895), Hòa thượng
lắng nghe và nhận ra sự thông minh hiếm thấy nơi Ngài. Bằng
những lý giải nhân quả luân hồi, lẽ thịnh suy thế sự,
Hòa thượng Diệu Giác đã cảm hóa tâm hồn Ngài ngay ngày
đầu gặp gỡ. Sau đó, Ngài cầu xin được xuất gia học
đạo. Hòa thượng Diệu Giác nhận lời, nhưng do tình hình
đương thời bất ổn nhiều mặt nên Hòa thượng dạy phải
ẩn nhẫn hành điệu cho thuần thục luật thanh quy chốn già
lam, chờ lúc thời cơ thuận lợi sẽ cho thọ giới, Ngài vui
mừng khôn xiết. Năm đó, Ngài vừa đúng 14 tuổi.
Năm
Kỷ Mão, Tự Đức thứ 30 (1879), Hòa thượng Diệu Giác gởi
Ngài sang Hòa thượng Linh Cơ ở am Tường Vân để tiếp tục
tham học và phụ công việc trùng tu. Đây là thời điểm Hòa
thượng Linh Cơ đang sát nhập am Tường Vân với chùa Từ
Quang. Quang cảnh chung quanh hãy còn u tịch nên Ngài có điều
kiện chuyên hành công phu nghiêm mặt và chiêm nghiệm những
lời dạy của chư Hòa thượng đã khai mở, nhờ vậy tri kiến
của Ngài đã được bước tiến đáng kể.
Năm
Nhâm Ngọ, Tự Đức 35 (1882), Ngài được Hòa thượng Linh
Cơ thế độ, ban pháp danh là Thanh Thái, tự Phước Chữ và
liền được cử giữ chức tri sự chùa Tường Vân vừa được
tân tạo. Tháng bảy cùng năm, nhân Đại giới đàn chùa Thiên
Ấn (Quảng Ngãi) do Hòa thượng Giác Tánh khai mở và làm Đường
Đầu, Ngài được phép Hòa thượng Bổn sư cho vào thọ Cụ
túc giới.
Sau
khi được thực thụ trở thành vị Tỳ kheo với niềm hỷ
lạc, Ngài nhân cơ hội đã đến thăm chùa Phước Lâm ở
ngoại ô thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Nơi đây được
Hòa thượng Toàn Nhâm – Vi Ý ân cần khai mở cho Ngài thêm
nhiều kiến giải sâu sắc. Sau đó Hòa thượng Vĩnh Gia (kế
thế trụ trì) cũng giúp Ngài bằng cách khơi thông các mạch
nguồn Phật pháp.
Rời
chùa Phước Lâm, Ngài đến chùa Tam Thai ở núi Non Nước (Ngũ
Hành Sơn – Quảng Nam) được Hòa thượng Bửu Tài ân cần
giảng dạy. Nơi đây Ngài còn được nghe nhiều về Ông Ích
Khiêm, người bản xứ được tiến cử làm quan từ thời
vua Thiệu Trị, rất được nhiều người mến phục về bản
tính bộc trực khẳng khái của ông. Từ một người được
xem là cao đẹp và cũng nhanh chóng trở thành kẻ nhiều tội
lỗi qua sự kiện “Tam Ban Triều điển” ngày 29.11.1883, Ngài
càng thấm thía hơn những lời dạy của bậc trưởng thượng
nơi các chốn già lam.
Năm
Giáp Thân (1884) Ngài mang tâm trạng ấy trở về Huế, đúng
vào ngày vua Hàm Nghi làm lễ đăng quang (01-8-1884) sau 55 ngày
ký “hòa ước” (06-6-1884). Từ nay Nam triều đã thật sự
bước vào đêm dài nô lệ, lễ đăng quang ấy không được
Khâm sứ Pháp Rheinart thừa nhận, vì chưa được Nhà nước
bảo hộ thông qua. Ngài càng thấy rõ cảnh đời huyễn mộng
đổi thay tủi nhục, tự nhủ phải xa lánh để tìm về sự
tĩnh lặng của chơn thức bằng con đường thủ hạnh. Một
buổi sáng, Ngài viết vội mấy câu thơ lên tường chùa Tường
Vân rằng :
Phù
sanh huyễn cảnh nhược vi an
Mạt
pháp tu trì chuyển thậm nan
Phi
thị, thị phi hà nhật liễu
Xả
thân cầu Đạo thượng tâm đoan
Rồi
Ngài nhắm thẳng hướng Tiêu Sơn lẳng lặng ra đi.
Năm
Kỷ Sửu, Thành Thái nguyên niên (1889), Hòa thượng Linh Cơ
lui về nhập thất tu niệm, gọi Ngài về để hiệp trợ các
công việc Phật sự, nhất là công việc trùng tu chùa Tường
Vân. Trong đợt trùng tu này, Ngài cho xây thêm “Lạc Nghi Đường”
nối liền chánh điện và hậu điện. Bảng “Sắc Tứ Tường
Vân” cũng được lập trong đợt này.
Năm
Giáp Ngọ, Thành Thái thứ 6 (1894), Hòa thượng Linh Cơ phú
pháp cho Ngài qua bài kệ đắc pháp như sau :
Định
tâm Phước Chữ tịnh an nhiên
Xử
thế tùy cơ liễu mục tiền
Đạo
niệm tinh tu tình niệm đoạn
Như
kim phó chúc vĩnh lưu truyền
Cùng
năm đó, Ngài được cử làm tri sự chùa Từ Hiếu.
Năm
Tân Hợi, Duy Tân thứ 5 (1912), Ngài được vua ban sắc trụ
trì chùa Thánh Duyên (núi Túy Vân).
Năm
Nhâm Thân, Bảo Đại thứ 6 (1932), Ngài được sắc ban Tăng
Cang chùa Thánh Duyên.
Năm
Đinh Sửu, Bảo Đại thứ 12 (1937), Ngài được phong Tăng Cang
chùa Diệu Đế.
Năm
Kỷ Mão, Bảo Đại thứ 15 (1940), ngày 17 tháng Chạp, Ngài
an nhiên thị tịch, thọ 82 tuổi và sống 58 năm trong đời
tu hành. Nhục thân Ngài được các đệ tử nhập tháp trong
khuôn viên chùa Từ Hiếu.