HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TỪ VĂN
1877
– 1931
Hòa
thượng Thích Từ Văn pháp hiệu Chơn Thanh, thế danh Nguyễn
Văn Tầm, sinh năm Đinh Sửu (1877) tại làng Phú Cường, Thủ
Dầu Một - Bình Dương.
Ngài
sinh trưởng trong một gia đình sùng kính Tam Bảo. Thân phụ
và thân mẫu của Ngài đều là người quy y Tam bảo. Nhờ
ảnh hưởng truyền thống gia đình, năm lên 10 tuổi, Ngài
sớm có nhân duyên mến mộ đạo Phật, và được phép song
thân cho xuất gia học đạo.
Ngài
được song thân đưa đến xuất gia tại Tổ đình chùa Hội
Khánh với Hòa thượng Ấn Long - Thiện Quới vào năm 1887,
lúc Ngài chỉ mới tròn 11 tuổi, được Bổn sư ban pháp danh
là Từ Văn. Với bản chất thông minh, lanh lợi và tinh tấn
công phu bái sám, Ngài đã được Hòa thượng Ấn Long cũng
như Tăng chúng trong chùa thương mến. Sau 5 năm học đạo,
Ngài thuộc nhiều kinh, luật, Hòa thượng Ấn Long thấy đệ
tử Từ Văn thông minh hơn các Tăng chúng trong chùa nên quyết
định giới thiệu đến học đạo với Tổ Huệ Lưu ở chùa
Huê Nghiêm – Thủ Đức.
Sau
khi Tổ Huệ Lưu viên tịch năm 1898, Ngài đến dự nhiều khóa
Hạ tại chùa Sùng Đức, Chợ Lớn – Gia Định và theo học
đạo với nhiều vị cao Tăng nổi danh khác.
Năm
1906, Đại lão Hòa thượng Ấn Long viên tịch, Ngài cùng môn
đồ pháp quyến đứng ra tổ chức lễ tang và xây tháp cho
Bổn sư. Mến trọng đức độ và tài trí của Ngài, chư sơn
Thiền đức và môn đồ pháp quyến Tổ đình Hội Khánh đồng
nhất trí công cử Ngài đảm nhiệm trụ trì để điều hành
Phật sự. Tiếng tăm và uy đức của Ngài càng được chư
sơn thiền đức trong vùng biết đến. Vào năm 1909, Ngài được
cung thỉnh Chứng minh để trùng tu lại ngôi tháp Tổ Nguyên
Thiều chùa Kim Cang – Biên Hòa.
Năm
Quý Sửu (1913), Ngài lại được quý Hòa thượng miền Tây
Nam Bộ cung thỉnh làm Pháp sư tại trường Hương chùa Tam
Bảo – Rạch Giá, năm Nhâm Tuất (1922) làm Chánh chủ khảo
kỳ thi tại trường Hương chùa Giác Lâm – Gia Định và năm
Giáp Tý (1924) là Pháp sư Chúc thọ giới đàn chùa Giác Viên
– Gia Định.
Vào
năm Canh Thân 1920, tại Thủ Dầu Một nổ ra cuộc đấu tranh
của đồng bào yêu cầu nhà cầm quyền Pháp phải có chính
sách đối với những gia đình có con đi lính thuê cho Pháp.
Đáp lại, nhà cầm quyền Pháp có tổ chức buổi lễ cầu
siêu cho các tử sĩ tại thành phố Marseille, miền Nam nước
Pháp. Mượn uy tín của hòa thượng Từ Văn, nhà cầm quyền
Pháp ở Thủ Dầu Một đã cậy nhờ Ngài sang pháp làm Sám
chủ cuộc lễ này. Với năng khiếu mỹ thuật bẩm sinh, nhân
dịp này Ngài đã quản lý và chỉ đạo nhóm thợ thủ công
ở Thủ Dầu Một mang mô hình chùa Hội Khánh và một số
tượng Phật của chùa sang Marseille để triển lãm. Từ đây,
ở cương vị Tăng thống, Ngài đóng một vai trò chủ đạo
trong giới Phật giáo nước nhà, các nhà chức trách cũng như
Tăng tín đồ đều gọi Ngài là Hòa thượng Cả.
Trong
phong trào chấn hưng Phật giáo, Ngài đứng ra mở các lớp
đầu tiên dạy giáo lý, qui tụ tất cả các Tăng sĩ Thủ
Dầu Một lúc bấy giờ đến tham dự khóa học. Ngài đã khơi
dậy ý thức cho giới Tăng sĩ trong công cuộc chấn hưng Phật
giáo và các phong trào đấu tranh bảo vệ bản sắc dân tộc.
Đặc biệt vào năm 1923, do tiếng tăm và đức độ cũng như
tinh thần yêu nước của Ngài, nên cụ Phó bảng, Nguyễn Sinh
Sắc (thân sinh của Hồ Chủ Tịch) và cụ Tú Cúc – Phan Đình
Viện, một sĩ phu yêu nước, hai vị đã tìm đến Hòa thượng
Từ Văn. Cùng chung lý tưởng trên tinh thần yêu nước bảo
vệ dân tộc, ba vị đã đứng ra thành lập “Hội danh dự
yêu nước” tại chùa Hội Khánh. “Hội danh dự yêu nước”
chủ trương giáo dục đồng bào sống đúng với đạo lý
con người, truyền bá tư tưởng yêu nước chống ngoại xâm
trong đồng bào cũng như Tăng sĩ Phật giáo ở Thủ Dầu Một.
Hội hoạt động đến năm 1926 thì bị nhà cầm quyền Pháp
giải tán.
Cũng
trong năm này (Bính Dần 1926), Ngài được ông bà Hội đồng
Lương Khắc Minh đứng ra xây dựng chùa Trường Thạnh ở
Sài Gòn đến cung thỉnh trụ trì chùa tại đây. Ngài nhận
lời và cử sư Thiện Tòng về trụ trì. Gắn bó, tâm huyết
với Phật sự giáo dục Tăng Ni, giữa năm 1926, Ngài làm Pháp
sư ở trường Hạ chùa Hội Phước, Mỹ Tho; rồi năm Mậu
Thìn (1929), làm Chứng minh tại trường Hương chùa Long Phước.
Năm
1930, Ngài đứng ra tổ chức khắc bản in kinh để ấn tống
cho khắp cả vùng miền Đông và Tây Nam bộ. Hiện nay bút
tích của Ngài còn lưu lại tại nhiều chùa ở thành phố
Hồ Chí Minh như chùa Giác Lâm, Giác Viên, Sắc Tứ Từ Ân,
Trường Thạnh...
Hòa
thượng là vị cao Tăng thạc đức trọn đời chăm lo hoằng
dương Phật pháp và giàu lòng yêu nước xứng danh bậc thạch
trụ của thiền lâm. Ngài đã góp phần xây dựng và định
hướng cho sự phát triển của Phật giáo ở Thủ Dầu Một
nói riêng và miền Đông Nam bộ nói chung từ đầu thế kỷ
XX.
Ngài
đã xả bỏ xác thân giả huyễn, an nhiên thị tịch vào lúc
11 giờ ngày 26 tháng 11 năm Tân Mùi (1931). Môn đồ tứ chúng
tổ chức tang lễ một cách trọng thể và xây tháp tôn thờ
trong khuôn viên Tổ đình chùa Hội Khánh. Tinh thần nhiệt
thành vì đạo, vì đời và sự uyên thâm Phật học của Hòa
thượng Từ Văn đã được chư Sơn thiền đức khắp vùng
và tứ chúng đồng kính ngưỡng, niềm tôn kính bộc lộ rõ
nét qua câu đối:
Đinh
Sửu Hạ, long thần nhập đạo siêu nhân duy học tử
Tân
Mùi Đông, thị tịch qui không tùy Phật chứng vô sanh