HÒA
THƯỢNG
THÍCH
PHỔ HUỆ
1870
– 1931
Hòa
thượng Thích Phổ Huệ người họ Trần sinh năm Canh Ngọ
– 1870 tại xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định
(đồng hương với Quốc sư Phước Huệ). Năm 12 tuổi (Nhâm
Ngọ – 1882) Ngài xuất gia thọ giáo với Hòa thượng Từ
Mẫn, tại chùa Tịnh Lâm, làng Chánh Lộc, huyện Phù Cát,
tỉnh Bình Định, được đặt pháp hiệu là Phổ Huệ.
Sau
một thời gian tu học tại chùa Tịnh Lâm, Ngài được Hòa
thượng Bổn sư Từ Mẫn cho vào tham học Phật pháp với Hòa
thượng Pháp Hỷ, tỉnh Phú Yên.
Đến
khi Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Ngài kế tục trụ trì
chùa Tịnh Lâm và kiêm nhiệm trụ trì chùa Bảo Phong (chùa
Bảo Phong cách chùa Tịnh Lâm khoảng 03 cây số về phía Đông).
Khoảng
năm Mậu Thân – 1908, cũng như Hòa thượng Phước Huệ (chùa
Thập Tháp), Ngài được triều đình Huế thỉnh vào trong hoàng
cung để thuyết pháp. Vì thế, Ngài được tôn xưng là “Pháp
sư Phổ Huệ” và là một ngôi sao sáng của Phật giáo Việt
Nam lúc bấy giờ.
Sau
thời gian hoằng hóa tại Huế, Ngài trở về chùa Tịnh Lâm,
mở đạo tràng giảng dạy Phật pháp. Vốn là bậc chân tu
thạc đức, lại có biệt tài thuyết pháp, nên đạo tràng
Tịnh Lâm lúc này rất thịnh vượng, tiếng tăm vang khắp
cả Trung kỳ.
Ngoài
ra, Ngài còn có biệt tài về thi ca, đã sáng tác nhiều bài
thơ, kệ mang đậm ý Thiền, còn lưu truyền mãi đến ngày
nay.
Vào
năm 1901, Ngài Viên Thành (1879 – 1928) khai sơn chùa Tra Am -
Huế có nhân duyên hội ngộ Ngài Phổ Huệ tại Đại giới
đàn tỉnh Phú Yên (Ngài Phổ Huệ lúc này làm Giáo thọ Sư
tại đây) rất lấy làm cảm phục kiến thức và đức độ
của Ngài, ước ao được thân cận để học hỏi, nhưng không
được thỏa nguyện, nên Ngài Viên Thành đã làm bài thơ sau
đây kính tặng Ngài Phổ Huệ :
“Bình
bát truy tùy dĩ hữu niên
Đạo
năng thâm khế diệc tiền duyên
Vân
quang thuyết pháp hoa ưng trụy
Quý
phạp Tô Tuân chí học kiên”
Dịch:
Y bát bên mình trọn mấy niên
Đạo
tình thâm áo cũng tiền duyên
Vân
quang thuyết pháp hoa rơi rụng
Thẹn
với Tô Tuân chí học bền.
Nguyễn
Lang dịch)
Khoảng
năm 1926, Ngài Phổ Huệ có viết thư khen Ngài Viên Thành về
bài bạt mà Ngài Viên Thành đã đề trong kinh Pháp Bảo Đàn
ấn hành tại Huế năm 1925. Cảm động về bức thư này, Ngài
Viên Thành liền gửi hai bài thơ vừa được sáng tác, trình
bày kiến giải của mình, để cầu Ngài Phổ Huệ ấn chứng.
Hai bài như sau :
Bài
1: Tham thiền trực hạ liễu căn nguyên
Thánh
giả phàm tinh lưỡng bất tồn
Đại
đạo khởi tòng tâm ngoại đắc ?
Yếu
giao nhất niệm tuyệt phan duyên.
Dịch:
Tham cứu cho lên tột cội nguồn
Còn
đâu ai thánh với ai phàm
Ngoài
tâm, đạo lớn tìm đâu thấy ?
Nhất
niệm chuyên trì dứt vạn duyên.
Bài
2: Sơn cùng thủy tận chuyển thân lai
Bức
đắc kim cương chính nhãn khai
Vạn
tượng tòng trung thân độc lộ
Niết
bàn, sinh tử tuyệt an bài
Dịch:
Cùng
non tột nước gửi thân về
Miễn
được kim cương mở mắt ra
Vạn
tượng bao la thân hiển lộ
Niết
bàn, sinh tử có hề chi ?
(Nguyễn
Lang dịch)
Khoảng
năm 1927, nhân dịp du hóa Nam kỳ, đến Châu Đốc Ngài đã
dừng chân một tháng tại chùa Phi Lai. Thấu rõ được nguyên
lai và chí nguyện của vị sư trụ trì Thích Chí Thành nên
Ngài Phổ Huệ đã làm bài thơ tán thán :
Đương
thế Phi Lai chấn đạo tôn
Chí
thành khí sắc cổ phong tồn
Phong
lưu bất tẩy tâm thường tịnh
Diệu
nghĩa năng tham tự tánh dung
Vân
khứ, vân lai vô trụ trước
Hoa
khai, hoa tạ tổng thành không
Phong
quang hảo cực tư thời tận
Sa
nhược linh san lạc bất ưng
Dịch:
Chùa
Tổ Phi Lai hương đạo xông
Chí
thành nguyện tiếp bước Thiền tông
Phong
lưu chẳng xóa tâm thường tịnh
Diệu
nghĩa năng cầu tự tánh không
Mây
lại, mây qua lòng há vướng
Hoa
tàn, hoa nở tổng thành không
Gió
thuận, thời lành xe pháp chuyển
Non
thiêng cây báu mãi vun trồng
Ngoài
bài thơ trên, Ngài còn cảm tác nhiều thi phẩm khác, nhưng
hiện nay chưa sưu tập được.
Đệ
tử đầu tiên của Ngài là Hòa thượng Huyền Giải, sau kế
vị Ngài, trụ trì chùa Tịnh Lâm, và đệ tử kế tiếp tức
giảng sư Trí Quang, kế thế trụ trì chùa Bảo Phong.
Năm
1931, Ngài viên tịch tại chùa Tịnh Lâm, trụ thế 61 năm hơn
40 tuổi đạo. Bảo Tháp tôn trí tại chùa Bảo Phong nơi Ngài
đã sáng lập để môn đồ pháp quyến tôn thờ, chiêm ngưỡng
và ghi mãi công ơn của một bậc Thầy tài năng và đức độ,
đã góp phần to lớn, điểm tô nền Phật giáo Việt Nam trong
giai đoạn đầu thế kỷ XX thêm phần xán lạn rực rỡ, làm
tiền đề cho phong trào Chấn hưng Phật giáo sau này.