HÒA
THƯỢNG
TRA
AM - THÍCH VIÊN THÀNH
1879
– 1928
Hòa
thượng Thích Viên Thành, pháp húy Trừng Thông, thế danh là
Công Tôn Hoài Trấp ( ) sinh ngày ngày 17 tháng 11 năm Kỷ Mão
(1879) nhằm năm Tự Đức thứ 32 ( ) tại Kinh đô Huế. Thân
phụ là Tĩnh Quy, vốn công tử thứ 38 con của Hoàng tử
Nguyễn Phúc Bính (1797 – 1863) ( ), thân mẫu là bà Vũ Thị
Dần, con gái ông Vũ Văn Lợi. Như vậy quê nội của Ngài
ở huyện Duy Xuyên, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam còn quê
ngoại ở xã Xuân Mỵ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
Là
người con trai thứ ba trong một gia đình danh gia vọng tộc
và là cháu con của một vị vua đã khai sáng nên cơ nghiệp
triều Nguyễn, nhưng tuổi thơ của Ngài không phải theo định
kiến tất nhiên như người đời thường nghĩ. Ngược lại,
thực tế của cuộc đời đã làm tan tác bao hoài bão tốt
đẹp, cuốn phăng sự bình an sinh sống của một gia đình
dẫu là thứ dân cũng có được. Ngay từ lúc Ngài chào đời,
những sự kiện cuối trào Tự Đức đủ đun nóng tình thế
nội triều và đất nước ở thế lửa bỏng dầu sôi, đến
nỗi chưa đầy một năm sau đó (ngày 25 tháng Chạp 1880) triều
đình đã chính thức sang cầu viện nhà Thanh. Cái nghèo khó
là chuyện riêng mang cam chịu, nhưng tình thế đất nước
như vậy dù là hàng dòng dõi vua chúa, song thân Ngài cũng không
thể dửng dưng, ít nhất là chọn riêng một thái độ rẽ
hướng nào đó cho phải đạo.
Năm
Quý Mùi (1883) – năm Tự Đức cuối cùng, thân mẫu Ngài qua
đời trong cảnh thiếu hụt, để lại nguyên trạng nỗi lo
toan vào cội nguồn duy nhất còn lại là phụ thân. Năm ấy
Ngài chỉ mới hơn bốn tuổi đầu, hãy còn nhiều ngơ ngác,
vô tư. Có lẽ như thế sẽ tốt hơn để Ngài sớm nhận ra
vì sao cuối năm ấy vua Dục Đức (1853 – 1883) chỉ lên ngôi
được ba ngày đã phải chết tức tưởi.
Năm
Kỷ Sửu (1889), chỉ sáu năm thôi mà bao biến thiên dồn dập
với những đời vua nối tiếp nhau : Hiệp Hòa – Kiến Phúc
– Hàm Nghi – Đồng Khánh đi vào ngõ tối tăm, tủi nhục,
chưa đầy một năm mà ba vua bị giết, trong bốn tháng mà
triều đình đổi chủ ba lần. Đâu đâu cũng nghe những lời
ví von đầy ẩn ý “Nhất gian lưỡng quốc nan phân thuyết,
tứ nguyệt tam vương triệu bất tường” ( ). Đặc biệt
quan tâm là sự kiện kinh thành Huế thất thủ ngày 23 tháng
5 năm Ất Dậu 1885 và việc vua Hàm Nghi xuất bôn một giờ
sáng hôm ấy, đã khiến phụ thân Ngài không khỏi nao lòng,
từ đó trí não và sức lực xuôi dần trong tiếng thở dài,
và phụ thân Ngài đã ra đi vĩnh viễn – 10 tuổi đầu Ngài
đã khóc và tiếc thương cho tất cả.
Là
hoàng tộc lại đa thê, cho nên sau khi cha mất, cảnh mạnh
ai nấy lo thân là chuyện không có gì tắc trách. Vì thế Ngài
đã thật sự bơ vơ ly tán, tạm về núp bóng người dì ruột
và cũng là người dì ghẻ ( ), chấp nhận cảnh sống “cô
ai tử” với tâm ý thản nhiên của nghiệp dĩ. Ngay từ lúc
ấy, Ngài đã bất đầu ghi khắc vào tâm tư lời trối trăn
của thân phụ rằng “thà làm một chúng dân bình thường
mà đỡ tủi hổ và quay lưng được với tất cả khổ đau”.
Đó là thứ hành trang duy nhất được đặt vào tâm khảm
trong trắng tuổi thiếu thời, nuôi sống được Ngài thay cơm
gạo.
Năm
Canh Dần (1890) lúc 11 tuổi, lần đầu tiên Ngài được đi
học, điều đó với Ngài là một bước ngoặt sáng không
kém một niềm vui ấu thơ nào. Với người hiểu chuyện thì
đó lại là một sự miễn cưỡng còn sót lại nơi người
dì ruột dành cho Ngài chứ không là của một gì ghẻ, dù
có muộn màng nhưng vẫn là một tình cảm đáng trân trọng.
Đời
Ngài lại thêm những nghiệp quả đầy nghịch duyên trái ý,
bởi sự phân biệt con em hoàng tộc với đẳng cấp bần hàn
luôn được thầy dạy học quan tâm. Bị liệt vào đẳng cấp
thứ hai qua lớp áo, cùng tuổi học muộn đã khiến Ngài cảm
thấy bị xúc phạm. Để rồi không lâu sau đó, Ngài phải
buộc lòng rời bỏ nơi mà những ngỡ rằng cuộc đời sẽ
đổi khác, mà tìm đến với những cuộc vui của những đứa
trẻ cùng đinh, để vùi lấp bớt nỗi cô đơn, lây lất của
mình.
Năm
Bính Thân (1896) trong dòng chảy cô đơn lây lất ấy đã dẫn
bước chân Ngài đến chùa Ba La Mật, nơi có người anh rể
con chú bác là Thanh – Chân – Viên Giác trụ trì ( ). Đây
mới chính là nơi an ổn, cắt đứt được nghiệp trần nghiệt
ngã và là nơi thực sự thấm đượm tình yêu thương, mở
bước sang trang sau này. Ngài được Sư Viên Giác cho thế độ
xuất gia.
Năm
Canh Tý (1900) trước khi viên tịch, Sư Viên Giác đã phú pháp
cho Ngài bài kệ như sau :
Tào
khê nhất phái thủy đông lưu
Bình
bát chân truyền bất ký thu;
Giáo
ngoại bản lai vô biệt sự;
Viên
thành tâm pháp ấn tiền tu.
Năm Canh
Tý (1900) Thành Thái thứ 12, Ngài chính thức được thọ giới
với pháp danh Viên Thành, húy Trừng Thông thuộc đời thứ
42 dòng Lâm Tế. Và là thế hệ thứ 8 thuộc dòng Thiền Liễu
Quán, đủ thuận duyên kế thế trụ trì chùa Ba La Mật theo
di huấn của Bổn sư.
Năm
Tân Sửu (1901) Thành Thái thứ 13, Ngài thọ Cụ túc giới tại
Đại giới đàn ở Phú Yên và đậu thủ Sa di. Ngài được
thưởng bộ kinh Lăng Già Tâm Ấn, một bình bát được làm
tại Trung Quốc và một bộ Sô y.
Từ
đó Ngài chuyên tâm tu hành phát tấn, vốn bản tính thích
gần gũi thiên nhiên, thiền hành phóng khoáng lại chuộng thơ
văn nên Ngài đã tạo riêng cho mình một thế giới bao la đạo
hạnh rất thư thái và an nhiên.
Năm
Quý Hợi (1923), tức 23 năm sau, những tưởng cuộc đời Ngài
đã an bày nơi thiền tự giải thoát, nào ngờ các con cháu
của Sư Viên Giác (lúc còn là Bố Chánh) giờ đây thấy chùa
Ba La Mật rạng rỡ hơn xưa, tranh giành chủ quyền, lấy chính
những lối hành thiền, đạo phong của Ngài ra làm nguyên nhân
để tìm cách thủ đắc. Với bản chất phóng khoáng, Ngài
không khó khăn chi lắm khi ra đi, trả lại chùa cho con cháu
dòng họ Nguyễn Khoa.
Ngài
tìm đến núi Ngũ Phong, dựng một thảo am nhỏ bên cạnh tháp
mộ Bổn sư Viên Giác để tiện việc chăm nom. Đây là vùng
đất bằng phẳng với phong thủy hữu tình, phía xa phương
Nam có núi Thiên Thai cao ngất, phía Bắc có núi Ngự Bình và
phía Đông chính là ngọn núi Ngũ Phong. Năm ấy là năm Khải
Định thứ 8, chùa Tra Am đã có mặt từ duyên khởi đầu
tiên ấy ( ).
Năm
Giáp Tý (1924) năm Khải Định thứ 9, Ngài được cung thỉnh
vào hàng Đệ nhị Tôn chứng ở Giới đàn chùa Từ Hiếu.
Chùa
Tra Am ngày một tấn phát, được nhiều người tìm đến tu
học và thỉnh giảng. Ngoài ra chùa còn là nơi danh lam được
các hàng thức giả, nhà văn thơ trong hai triều Khải Định
và Bảo Đại tìm đến ứng vịnh thi pháp, trao đổi đạo
tình. Đặc biệt từng đón các cao Tăng như Ngài Tâm Tịnh
ở chùa Tây Thiên; Giác Tiên ở chùa Trúc Lâm; Huệ Pháp ở
chùa Thiên Hưng; Phổ Huệ ở chùa Tịnh Lâm, Từ Nhẫn ở
miền Nam... tìm đến thăm nom và thư đạo. Đáng lưu ý hơn
hết về giá trị của chùa Tra Am qua bài “Tra Am Ký” do Mai
Tu – Nguyễn Cao Tiêu viết, càng làm tăng thêm danh tiếng lẫn
phong cảnh đạo vị nơi này.
Năm
Mậu Thìn (1928) năm Bảo Đại thứ 3, Ngài đã an nhiên thị
tịch tại chùa Tra Am, thọ 49 tuổi đời, 32 năm xuất gia tu
tập, với 27 Hạ lạp.
Tháp
bảy tầng của nhục thân Ngài được các đệ tử xây dựng
bên phải chùa Tra Am, mặt hướng về phía Tây, nhìn ra dòng
Tẩy Bát Lưu.