HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TÂM TỊNH
(1868
– 1928)
Hòa
thượng Thích Tâm Tịnh, pháp hiệu Tâm Tịnh, thuộc dòng Lâm
Tế đời thứ 41, thế danh là Nguyễn Hữu Vĩnh, sinh năm Tự
Đức thứ 21 (Mậu Thìn – 1868), tại Thừa Thiên – Huế.
Ngài lớn lên trong thời kỳ triều đình nhà Nguyễn đang dần
dần suy yếu, là đệ tử nối pháp thứ năm của Hòa thượng
Diệu Giác – Hải Thuận (trụ trì chùa Báo Quốc).
Đồng
một thế hệ với Ngài, gồm có Ngài Tâm Khoan (chùa Quang Bảo,
chùa Thiên Tôn), Ngài Tâm Thiền (chùa Thiền Tôn), Ngài Tâm
Quảng (chùa Báo Quốc), Ngài Tâm Thể (chùa Từ Ân), Ngài Tâm
Truyền (chùa Diệu Đế, chùa Báo Quốc), Ngài Tâm An (chùa
Thọ Đức), Ngài Tâm Thành (chùa Từ Quang), Ngài Tâm Minh (chùa
Ngọc Sơn). Chín vị Tổ này được truyền tụng với danh
hiệu “Cửu Tâm” theo cách gọi kính phục của quần chúng
nhân dân xứ Huế, và được Hàm Long Sơn Chí ghi là “Nam
chi cửu diệp” nghĩa là Cành Nam chín lá hoặc Thiền tông
chín ngọn.
Tháng
Tư năm Thành Thái thứ 6 (Giáp Ngọ – 1894), Đại giới đàn
được tổ chức tại Tổ đình Báo Quốc. Trong Đại giới
đàn này, Ngài Tâm Tịnh đã được Hòa thượng Diệu Giác
thế độ và phú pháp cho, bấy giờ Ngài được 27 tuổi. Bổn
sư đã ban cho Ngài bài kệ phú pháp như sau:
“Hà
thanh ninh mật tứ phương an
Hữu
vinh tâm tâm đạo tức nhàn
Tâm
tợ Bồ đề khai huệ nhật
Bao
hàm thế giới như thị quan”
Tạm
dịch:
“Sống
trong yên lặng bốn phương an
Vĩnh
viễn tâm tâm đạo ấy nhàn
Tâm
tựa Bồ đề soi mặt nhật
Một
bầu thế giới ngó muôn vàn”
Sau khi
pháp đắc, Ngài kế vị Hòa thượng Huệ Đăng làm trụ trì
chùa Từ Hiếu trong nhiều năm. Nơi đây, Ngài một mặt trau
giồi Tam học, một mặt hoằng dương đạo pháp, chấn hưng,
trùng tu ngôi Tam bảo Từ Hiếu, trở thành một Tổ đình nguy
nga, tráng lệ.
Năm
Giáp Thìn 1904, sau mười năm kể từ khi trụ trì Tổ đình
Từ Hiếu, Ngài truyền giao lại cho Hòa thượng Huệ Minh và
tiếp tục sự nghiệp tu hành theo đúng sở nguyện : thích
chốn u nhàn tịch mặc để tư duy kiến tánh và giáo hóa đệ
tử kế thừa, Ngài lên núi Ngự Bình (Huế), cất một thảo
am ở phía Tây Nam và gọi đó là am Thiếu Lâm. Đây cũng là
tiền thân của chùa Tây Thiên – một Tổ đình nổi tiếng
của đất thần kinh và của cả miền Trung đến nay.
Trong
thời gian khai sơn chùa Tây Thiên này, Ngài tiếp tục truyền
thụ tâm ấn cho các đệ tử, kế tục truyền thống của
Bổn sư có chín vị đệ tử “Cửu Tâm”, còn Ngài thì đào
luyện 9 vị đệ tử mang chữ Giác thành “Cửu Giác”. Đó
là Hòa thượng Giác Tiên (khai sơn chùa Trúc Lâm), Hòa thượng
Giác Nguyên (kế thừa Tổ đình Tây Thiên), Hòa thượng Giác
Nhiên (Tọa chủ Tổ đình Thiền Tôn – Đệ nhị Tăng thống
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất) Hòa thượng Giác
Viên (khai sơn chùa Hồng Khê), Hòa thượng Giác Hải (khai
sơn chùa Giác Lâm), Hòa thượng Giác Bổn (trụ trì chùa Từ
Quang), Hòa thượng Giác Ngạn (trụ trì chùa Kim Đài), Hòa
thượng Giác Hạnh (khai sơn chùa Vạn Phước), Hòa thượng
Giác Thanh tức Hòa thượng Đôn Hậu (trụ trì chùa Linh Mụ)
để trở thành những vị lương đống cho Giáo hội về sau.
Với
tài đức song toàn, giới hạnh túc nghiêm, uy tín Ngài mỗi
lúc một vang xa. Lúc bấy giờ nơi triều đình Huế, vua Khải
Định biết đến rất lấy làm tôn trọng và mến mộ. Nhà
vua đã cử Ngài giữ trọng trách Tăng Cang chùa Diệu Đế
để xiển dương đạo pháp. Tuy vậy, Ngài vẫn ở chùa Tây
Thiên chuyên cần lo việc mở lớp giáo huấn các đệ tử
xuất gia và tại gia.
Vào
đại lễ Phật Đản năm Giáp Tý (1924), Ngài đứng ra tổ
chức trọng thể Đại giới đàn tại chùa Từ Hiếu trong
bốn ngày : mồng 8, 9, 10 và 11 tháng Tư âm lịch. Phật sự
lớn lao đó đã được sự cúng dường, bảo trợ tận tình
của chính vua Khải Định. Trong Đại giới đàn này, Ngài
làm Đàn đầu Hòa thượng, số giới tử thọ giới lên đến
450 vị, trong đó có 300 Tăng, Ni thọ Đại giới.
Mùa
xuân năm Mậu Thìn, ngày 6 tháng 4 triều Bảo Đại năm thứ
ba (nhằm ngày 25 tháng 4 năm 1928), Hòa thượng Tâm Tịnh thị
tịch, Ngài trụ thế 60 tuổi, hạ lạp 32 năm.
Hòa
thượng Tâm Tịnh đã ra đi, nhưng hình ảnh của Ngài vẫn
còn in đậm trong lòng đạo pháp dân tộc. Ngài đã chỉ đạo,
góp phần chỉnh lý Tăng chế và đào tạo nhân tài cùng với
quý Hòa thượng tôn túc ở miền Trung. Cả thảy chín vị
đệ tử của Ngài (Cửu Giác) đều là các bậc lãnh đạo
phong trào Chấn hưng Phật giáo từ những năm 1930 và Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam hiện đại.
Thiền
sư Viên Thành, chùa Tra Am, một thi sĩ tài hoa lỗi lạc bậc
nhất thuở bấy giờ, đã lược nghiệp và bi cảm viết về
Ngài như sau :
“Tứ
thập nhất đại Lâm Tế chân Thiền Phong, đào chú công thâm,
thùy thọ đương đầu hát bổng.
Ngũ
thập cửu niên Diêm Phù thùy hóa tích, trí bi nguyện mãn,
nhi kim toát thủ hoàn gia”.
Tạm
dịch :
“Lâm
Tế đời bốn mươi mốt chấn chỉnh Thiền Tông nung đúc
công sâu, còn ai trao truyền đánh hét.
Diêm
Phù thọ năm mươi chín rõ lòng giáo huấn trí bi nguyện đủ,
chừ đây buông thõng về nhà”.