HÒA
THƯỢNG
THÍCH
HUỆ PHÁP
(1871
– 1927)
Hòa
thượng Thích Huệ Pháp, pháp danh Thanh Tú, pháp tự Phong Nhiêu,
Ngài họ Đinh, sinh năm Tân Mùi 1871 (Tự Đức thứ 24), tại
làng Trung Kiên, tổng Bích La, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng
Trị. Gia đình Ngài thuộc thành phần nho gia có truyền thống
kính tin Phật pháp nhiều đời, thân phụ từng là vị thầy
giáo làng được nhiều người kính trọng.
Vốn
bản tính tự tin lại được un đúc trong môi trường nho học
nên Ngài rất được thân phụ khuyến khích sự lựa chọn,
không can thiệp về chí hướng tương lai. Nhờ vậy, Ngài đã
đến xin cầu xuất gia với Hòa thượng Tăng Cang – Cang Kỷ
tại chùa Từ Hiếu, được Hòa thượng tiếp nhận. Năm đó,
Ngài vừa tròn 15 tuổi, nhằm năm Bính Tuất 1886, niên hiệu
Hàm Nghi thứ 2.
Khi
đã bước chân vào chùa, những cảnh đời dâu bể tiếp tục
diễn ra như là sự thách đố, đã tác động không ít đến
tư tưởng, nhận thức của Ngài, và thiền môn cũng đang tất
bật trong các đợt trùng tu, lại cũng là thời gian Hòa thượng
Bổn sư vừa lo tang lễ xong cho đệ tử là Hòa thượng Huệ
Đăng được cử trụ trì chưa hơn một năm đã viên tịch.
Vì vậy mãi đến năm Nhâm Thìn 1892 (Thành Thái thứ 4), Ngài
mới được Bổn sư cho thọ giới Sa di, ban pháp danh là Thanh
Tú, tự Phong Nhiêu, hiệu Huệ Pháp. năm đó Ngài 21 tuổi.
Vừa
thọ giới xong, Ngài được chọn làm thị giả hầu cận Hòa
thượng Bổn sư, vì thế Ngài từng chứng kiến các nhân vật
quan trọng có cả vua Thành Thái đến viếng chùa và đàm đạo
với Hòa thượng Hải Thiệu.
Năm
Giáp Ngọ, Thành Thái thứ 6 (1894), Ngài thọ Cụ túc giới
tại Đại giới đàn chùa Báo Quốc. Đây là Giới đàn rất
quan trọng được tổ chức vào tháng 4 suốt bảy ngày, do
Hòa thượng Tăng Cang Diệu Giác làm Đường đầu truyền giới;
Hòa thượng Hải Thiệu làm Yết ma, Hòa thượng Linh cơ làm
Giáo thọ, Bà Hoàng thái hậu Từ Dũ cũng đến Giới đàn
này cúng dường và ban tặng các vị Giới sư mỗi vị một
bộ y cà sa bảy màu.
Tháng
8 cùng năm, Hòa thượng Bổn sư mở đợt trùng tu chùa Từ
Hiếu lần thứ 2 với quy mô lớn, đúc thêm hai tượng Phật,
mở rộng chánh điện thông qua nhà trước và hậu điện,
bia tháp, giếng nước...
Năm
Ất Mùi, Thành Thái thứ 7 (1895), Ngài được đắc pháp qua
bài kệ phú pháp của Hòa thượng Bổn sư:
Phong
nhiêu thọ pháp truyền
Nội
ngoại bổn như nhiên
Phò
trì chư Phật Tổ
Kế
thế vĩnh niên niên
Năm Bính
Thân, Thành Thái thứ 8 (1896), do Phật tử toàn phổ Linh Sơn
tại chùa Thiên Hưng đến đảnh lễ Hòa thượng Bổn sư xin
được cung thỉnh Ngài về làm tọa chủ dẫn dắt tín đồ;
được Hòa thượng chấp thuận, Ngài về chùa Thiên Hưng để
phát triển đạo tràng.
Nhận
nhiệm vụ mới này, Ngài mới có dịp bộc lộ hết tinh thần
vốn đã ấp ủ bấy lâu. Trước hết, Ngài mở các thời
khóa tịnh độ, giảng giải kinh điển từ thấp lên cao cho
mọi trình độ. Đặc biệt tập trung vào các bộ “Tứ Phần
giới bổn”, “Phạm Võng”, “Pháp Hoa”, “Lăng Nghiêm”.
Nhờ vậy chùa trở nên sinh động, phát triển nhanh chóng về
mọi mặt, được Phật tử khắp nơi tìm đến rất đông,
được cả vua Thành Thái biết đến.
Năm
Đinh Dậu, Thành Thái thứ 9 (1897), chỉ có vài ngày vua Thành
Thái được Nguyễn Hữu Bài phò giá vào Sài Gòn để khoe
với vua về những “kỳ công” của thực dân Pháp, thì ở
Huế, nhiều ngôi chùa vùng phụ cận, trong đó có chùa Thiên
Hưng Ngài đang trụ trì, bị rất nhiều kẻ “tả đạo”
đến quấy phá, gây hoang mang trong Phật tử. Với vóc dáng
phương phi, kỳ vĩ mà điềm đạm, Ngài đứng ra giảng giải
và yêu cầu họ “trở về” cũng như vua rồi cũng sẽ trở
về Huế thôi ! Đó là khẩu ý mà sau này vua Thành Thái đến
thăm chùa Từ Hiếu được Hòa thượng Bổn sư kể lại, đã
tấm tắc khen tặng Ngài.
Năm
Canh Tý, Thành Thái thứ 12 (1900), trong số các đệ tử đến
chùa Thiên Hưng học đạo lâu nay dưới sự dìu dắt của
Ngài, có không ít người thi đỗ tại các cuộc thi Hội, thi
Đình và hiện đang chuẩn bị kỳ thi Hương ở Quốc Tử Giám.
Trong đó có Lê An Du, Nguyễn Thiện Bình, Nguyễn Sanh. Nhưng
vua ngăn cản, muốn sung 3 vị đệ tử giỏi của Ngài vào
đội cận vệ để có thể liên lạc giữa vua và Ngài sau
này. Ngài hiểu được ý vua khi nhận được thâm ý trong câu
thơ nhắn : “Tịch mịch tiên triều cung ngoại miếu. Đỗ
Quyên đề đoạn nguyệt âm âm” ( ) (lúc này vua đã bị theo
dõi do lệnh của Khâm sứ Pháp Rheinard).
Năm
Đinh Mùi, Thành Thái thứ 18 (1907), thêm bất mãn trước việc
khâm sứ không chi duyệt tiền cho vua đi tuần du Thanh Hóa,
vua liền bỏ tiền túi ra chiêu mộ một số phụ nữ để
lập đội nữ binh và hằng ngày tự thân vua tập cho họ bắn
súng, cỡi ngựa dưới sự hỗ trợ của 3 vị đệ tử của
Ngài do vua tuyển chọn. Khi tin tới tai Ngài thì sự thể đã
muộn màng khiến Ngài tỏ ra lo ngại, không hài lòng. Và rồi
đúng như dự liệu của Ngài, Khâm sứ Pháp vịn vào đó làm
bằng cớ cho rằng “nhà vua không thật tâm cộng tác với
chính quyền bảo hộ”, và ra lệnh “từ nay nhà vua không
còn quyền hành gì nữa và không được ra khỏi nơi ở đã
dành cho vua trong nội cung”. Sau đó truất quyền và tiến
tới giam giữ vua, sai Trương Như Cương cầm đầu Hội đồng
Phụ chánh ra tuyên bố ”...Vì vua Thành Thái mắc bệnh điên”.
Năm
Canh Tuất, Duy Tân thứ 4 (1910), Ngài được cung thỉnh vào
Quảng Nam khai Đại giới đàn ở chùa Phúc Lâm với ngôi vị
Đệ tam Tôn chứng. Lúc này, Ngô Đình Khả dâng tờ sớ buộc
Thành Thái thoái vị và vua đã nhanh nhẹn ký vào không chút
luyến tiếc.
Năm
Tân Hợi, Duy Tân thứ 5 (1911), Ngài cho trùng tu chùa Thiên Hưng
trong nỗi ai hoài thương tiếc vị vua “bình dân” với ngôi
chùa vốn bình dân này đã được vua nhiều lần nhắc nhở.
Chính Ngài cũng không hay biết cùng năm này Thành Thái đang
bị giam lỏng ở Cap Saint Jacques (Vũng Tàu). Và rồi vua Duy
Tân cùng Trần Cao Vân, Thái Phiên tiếp nối sự nghiệp kháng
Pháp, từng bước đi vào lòng thương mến của nhân dân, chẳng
những của riêng Ngài mà là của cả dân tộc.
Năm
Kỷ Mùi, Khải Định thứ 4 (1919), vốn từng biết ngôi chùa
Thiên Hưng và bản thân Ngài, nên vua Khải Định ban cho Giới
đao và Độ điệp, với mong mỏi sẽ cắt đứt sự vọng
nhìn của Ngài đang lặng lẽ dõi theo từng bọt biển trùng
khơi đưa Thành Thái vĩnh viễn rời khỏi đất mẹ.
Năm
Giáp Tý, Khải Định thứ 9 (1924), sau 5 năm vua Thành Thái đã
bị đi đày ở đảo Réunion và Duy Tân cũng chung cùng số
phận, thì con thuyền Phật giáo vẫn giữ vững trong tư thế
bất diệt của mình, tùy thuyền đi vào bao nguồn lạch của
khúc sông. Cho nên giai đoạn này tất cả các bổng lộc, danh
xưng đối với Phật giáo chỉ còn là đơn nghĩa. Nhận định
những sự thật đó, Chư Sơn quyết định tổ chức Đại
giới đàn tại chùa Từ Hiếu, ngôi chùa “quan” bao lâu nay
để chứng minh cho sức sống Phật giáo. Tại Đại giới đàn
này, Ngài được suy cử ngôi vị Giáo thọ Sư.
Năm
Bính Dần, Bảo Đại nguyên niên (1926), Ngài tiếp nhận chức
vị Tăng Cang chùa Diệu Đế. Từ đó, Ngài ít tiếp xúc với
chung quanh, dành nhiều thời gian còn lại chuyên tỉnh thân
tâm.
Năm
Đinh Mão, Bảo Đại thứ 2 (1927) ngày 24 tháng Chạp, như có
nguyện sâu xa nào đó mà tông môn Tăng chúng không ai có thể
đoán biết trước, do Ngài trầm tư, ít nói. Sau khi Ngài đi
chiêm bái các Tổ đình và viếng thăm các thiện hữu về,
lên lễ Phật ở chánh điện rồi về tịnh phòng, Ngài ngồi
kiết già trước tượng Phật vẫn với bộ pháp phục và
tự châm lửa thiêu thân. Khi đó, Tăng chúng dập tắt ngọn
lửa một cách khó nhọc xong, Ngài nhìn khắp thảy và thều
thào “Đó là đại nguyện của ta xưa nay, xin Tăng chúng đừng
lo lắng”. Rồi sau đó, vị đệ tử Quảng Tu hiệp cùng Tăng
chúng xướng tụng kinh Bát Nhã cho Ngài.
Mãi
đến ngày mồng 1 tháng Giêng năm Đinh Mão (1927), vào giờ
Mão, Ngài thu thần thị tịch, thọ 56 tuổi đời, 33 Hạ lạp.
Tháp
Ngài được dựng trong khuôn viên chùa Từ Hiếu.